RHINO 101: KHI TÊ GIÁC GIAO TIẾP BẰNG PHÂN

RHINO 101: KHI TÊ GIÁC GIAO TIẾP BẰNG PHÂN

Đối với những loài động vật, việc thải ra những chất không cần thiết ở dạng phân hay nước tiểu là điều bình thường và cần thiết trong đời sống hằng ngày bởi lẽ điều này giúp loại bỏ những chất không cần thiết hoặc gây hại cho cơ thể sinh vật. Tê giác không phải là ngoại lệ khi chúng có thể nạp vào khoảng 50 kg thực vật mỗi ngày và phóng thích hơn 20 kg phân ra khỏi cơ thể.

Những “bãi chiến trường” được thải ra lại là một hình thức giao tiếp giữa những cá thể tê giác và còn là nguồn dinh dưỡng của một số loài chim và côn trùng. 

Hãy cùng WILD RHINO tìm hiểu phương thức giao tiếp thú vị này ở những bạn tê giác nhé!

  1. Chất thải trong đời sống động vật

Giao tiếp thông qua mùi từ nước tiểu và phân từ lâu đã là một phương thức mà các loài động vật sử dụng để nắm bắt những thông tin về đồng loại của mình như tình trạng sức khỏe, giới tính, khả năng giao phối,.v.v. Hươu cao cổ đực có hành vi liếm/uống nước tiểu của con cái để xem những cá thể này có sẵn sàng giao phối hay không. Linh dương Ả Rập (Gazella arabica) sử dụng những bãi phân để giao tiếp với đồng loại thông qua mùi hương của chất thải để phục vụ những mục đích khác nhau: con đực dùng cho việc bảo vệ lãnh thổ còn con cái sử dụng cho giao tiếp xã hội (Ảnh 1). Con người chúng ta từ xưa cũng khai thác những thông tin từ mẫu nước tiểu phục vụ cho y học. Thời Trung Cổ, những y sĩ sử dụng Bảng Tiết Niệu (Urine Wheel) để chẩn đoán bệnh dựa trên màu sắc, mùi, và cả vị của chất thải này (Ảnh 2).

Ảnh 1. Động vật có thể biết thông tin của đồng loại bằng cách liếm, uống nước tiểu hoặc ngửi mùi hương từ phân. A: hươu cao cổ Phương Bắc Nubian (Giraffa camelopardalis cf. camelopardalis); B: linh dương Ả Rập (Gazella arabica).

Ảnh 2. Bảng Tiết Niệu (Urine Wheel) từ thời Trung Cổ. Những mẫu nước tiểu được phân loại dựa theo màu sắc, mùi, và vị để chẩn đoán bệnh.

2. Khi phân và nước tiểu đóng vai trò “Profile của tê giác”

Tê giác cũng giao tiếp bằng khứu giác dựa trên mùi từ những bãi phân tập thể của chúng. Trong 5 loài tê giác còn tồn tại, tê giác trắng (Ceratotherium simum) là loài có tính bầy đàn cao nhứt trong các loài tê giác và thường có thể tập hợp thành 1 đàn gồm 15 cá thể (Ảnh 3). Duy chỉ có con đực thống trị sẽ sống một mình, bảo vệ lãnh thổ, cạnh tranh với những con đực khác, và giao phối với con cái. Vì vậy, bài viết hôm nay sẽ tập trung vào loài tê giác trắng.

Ảnh 3. Một nhóm tê giác trắng đang trong tư thế cảnh giác; chúng xếp thành một hình tròn, tai gióng cao, và mỗi thành viên của đàn hướng về mỗi phía khác nhau. Nguồn ảnh: International Rhino Foundation.

Trong một quần thể, tê giác trắng, bất kể độ tuổi hay giới tính, sẽ thải phân và nước tiểu của chúng tại những đống phân (Ảnh 4). Các nghiên cứu hành vi cho thấy những bãi chất thải này đóng vai trò như là trung tâm thông tin cho tương tác giữa con đực với con đực, con đực với con cái, và giữa những con cái với nhau chứ không chỉ đơn thuần là phương thức canh gác lãnh thổ. Con đực thống trị sẽ thải phân trực tiếp vào trung tâm của bãi phân, kết hợp với xới lớp phân bằng cách đá chi sau trước và sau khi xả thải (Ảnh 5); con cái thì chỉ thải ngoài rìa. 

Với khứu giác cực nhạy của mình, tê giác trắng có thể nhận biết sự hiện diện của đồng loại và chúng sẽ có những phản ứng khác tùy vào giới tính, tuổi:

  • Con đực cạnh tranh khác: coi như là một đối thủ, tăng tần suất quay lại bãi phân để có thể tiếp cận mùi lần nữa hoặc trực diện đối thủ cạnh tranh.
  • Con cái trong kì động dục: tăng số lần thăm lại bãi phân cũng như thời gian thực hiện hành vi ngửi mùi, và biểu lộ hành vi nhằm tiếp cận cá thể cái để giao phối.

Con đực nhỏ hơn hoặc con cái không trong kì động dục: không xem như là đối thủ cạnh tranh, con cái tiềm năng để giao phối.

Ảnh 4. Một bãi phân tập thể của loài tê giác trắng. Nguồn ảnh: GS. Adrian Shrader.

Ảnh 5. Hành vi dùng hai chi sau để sới lớp phân của con đực chiếm ưu thế. Nguồn ảnh: Thandablog, BioExpedition.

Những hành vi thú vị này đã tạo động lực cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu những thành phần có trong phân để lý giải khả năng nhận dạng những đối tượng khác nhau của tê giác. Nghiên cứu của Marneweck và cộng sự (2016) đã xác định hơn 200 hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) thuộc 13 gốc chức năng bằng phương pháp sắc ký khí – quang phổ khối (Gas Chromatography/Mass Spectroscopy – GC/MS). Sau đó, nhóm nghiên cứu tạo nên những mẫu phân nhân tạo trộn lẫn với những thành phần hóa học bao gồm các VOC tiềm năng liên quan đến khả năng phân biệt các cá thể tê giác về giới tính, tuổi tác, và tính lãnh thổ. Những viên phân nhân tạo này sẽ được đặt ở bãi phân ngoài tự nhiên và những con đực thống trị sẽ được chọn để khảo sát hành vi của chúng khi tiếp xúc với bãi chất thải vốn có hỗn hợp mùi nhân tạo đề cập trước đó, ở các điều kiện khác nhau: Mùi của con đực cạnh tranh, mùi của con cái động dục, đối chứng (control).

Kết quả cho thấy có những VOC liên quan đến khả năng xác định đối tượng của tê giác trắng (Ảnh 67). Có bốn hợp chất bay như sau:

  • 2,3-dimethylundecane: phân biệt giới tính của cá thể tê giác.
  • Heptanal: phân biệt lớp tuổi.
  • Nonane: xác định con đực cạnh tranh tiềm năng.
  • 2,6-dimethylundecane: xác định tình trạng động dục ở con cái.

Trong bài báo, nhóm nghiên cứu cũng đề cập đến những cơ chế khả thi:

  • Di truyền
  • Sự biến thiên lượng hormone và sự phát triển thể chất ở tê giác
  • Hệ vi sinh vật của từng cá thể
  • Tương tác trực tiếp và gián tiếp giữa các hormone và hệ vi sinh vật trong cơ thể

Ngoài ra, một nghiên cứu hành vi tê giác trắng đực của Marneweck và cộng sự (2018) cũng đưa ra giả thuyết rằng hành vi sới phân ở con đực nhằm khuếch đại tín hiệu mùi từ chất thải.

Ảnh 6. Tầm quan trọng của các hợp chất hữu cơ được phân tích bởi đồ thị MDA. Nguồn ảnh: Marneweck et al., 2016

Ảnh 7. Bốn hợp chất hữu cơ bay hơi được Marneweck và các cộng sự (2016) phát hiện có liên quan đến khả năng nhận biết tuổi, giới tính, tính cạnh tranh của tê giác.

3. Vai trò khác của phân tê giác trong hệ sinh thái

Như bao loài động vật khác, tê giác cũng thải ra một lượng phân đáng kể vào môi trường, thường phân của tê giác sẽ được thải ở khu vực mà chúng được chất đầy lên phục vụ cho mục đích đánh dấu lãnh thổ, giao tiếp với những cá thể tê giác khác. Bên cạnh hai mục đích nêu trên, phân của tê giác còn là nguồn dinh dưỡng cho những loài động vật khác. Ví dụ: loài bọ phân Scarabaeus nigroaeneus có thể được tìm thấy trong phân tê giác, những con bọ này sẽ lăn tròn những cục phân nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho những ấu trùng của chúng. Ngoài ra, phân tê giác có thể chứa những hạt giống từ những loài thực vật trong chế độ ăn uống của loài thú móng guốc này, những hạt giống này có thể được phân bố khắp nơi và phát triển thành cỏ cây, hoặc là nguồn dinh dưỡng cho những loài chim như loài chim mỏ sừng phương nam (Bucorvus leadbeateri), gà phi có mào (Guttera pucherani) (Ảnh 89).

Ảnh 8. Một số loài côn trùng có thể được tìm thấy trong phân tê giác. A: loài Scarabaeus nigroaeneus; B: loài Garreta unicolor. Nguồn ảnh: Alandmanson.

Ảnh 9. Một số loài chim tận dung phân tê giác như là một nguồn thức ăn cho chúng. A: gà phi có mào (Guttera pucherani);B: chim mỏ sừng phương nam (Bucorvus leadbeateri); C: chim mỏ sừng đỏ (Tockus sp.). Nguồn ảnh: TS. Ian MacDonald và TS. Jane Wiltshire.

4. Lời kết

Chất thải như phân và nước tiểu không chỉ chứa những thành phần không còn cần thiết cho cơ thể sinh vật mà còn chứa những chất hóa học cần thiết cho tương tác bằng khứu giác giữa đồng loại với nhau. Mùi tỏa ra từ những hợp chất hữu cơ trong bãi phân là một phương thức giao tiếp hiệu quả cho tê giác khi chúng có thể truy vấn những thông tin của đồng loại như giới tính, kì động dục, tính cạnh tranh của con đực, tuổi. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. How Do Rhinos Communicate? — Chromatography Explores. Chromatography Today.
  2. Marneweck, C., Jürgens, A., & Shrader, A. M. (2017). Dung odors signal sex, age, and a territorial and estrous state in white rhinos. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 284(1846), 20162376.
  3. Marneweck, C., Jürgens, A., & Shrader, A. M. (2018). Ritualized dung kicking by white rhino males amplifies olfactory signals but reduces odor duration. Journal of chemical ecology, 44, 875-885.
  4. What is a Rhino Midden? Wildlife Act Focused Conservation.
TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #4:  DARK SIDE OF THE HORN

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #4: DARK SIDE OF THE HORN

Âm nhạc là nghệ thuật tuyệt trần, nó giúp ta thư giãn, ngân nga những giai điệu bắt tay sau những tháng ngày làm việc mệt mỏi. Có thể nói mỗi nốt nhạc, mỗi ca từ tựa như những vị thuốc xoa dịu những nỗi đau và nâng cao cảm xúc của mỗi con người. 

Vì lẽ đó, hãng thu âm WILD RHINO hôm nay hân hạnh phát hành album “DARK SIDE OF THE HORN”, lấy cảm hứng từ album đình đám “DARK SIDE OF THE MOON” của nhóm nhạc Pink Floyd.

Sản phẩm lần này của chúng tôi quy tụ những ca khúc đình đám khắp nơi trên thế giới được trình bày bởi những bạn Tê Giác từ cuộc thi The Masked Singer khắp năm châu với đa dạng thể loại sẽ đưa người nghe đến nhiều tầng cảm xúc khác nhau như vui vẻ, phấn chấn, máu lửa, hay thậm chí rơi lệ.

8 bài hát từ 8 giọng ca góp giọng trong album này bao gồm:

  • Before you go – Charlie Simpson (UK)
  • Low – Wendell Sailor (AU)
  • Jerusalema – Kurt Darren (SA)
  • Thay tôi yêu cô ấy – Chau Khai Phong (VN)
  • ВИЩЕ НЕБА – Oleskii Trytenko (UA)
  • Humble and kind – Barry Zito (US)
  • Everybody – Miro (BUL)
  • Titanium – Tim Douwsma (NL)

Chúng tôi mong rằng sản phẩm này sẽ giúp những Anh Hùng Tê Giác có thể cảm nhận những giai điệu bắt tai từ những ca từ của bài hát cũng như thấy được rằng hình tượng tê giác oai nghiêm, hùng dũng không chỉ là niềm cảm hứng cho video game, siêu anh hùng mà còn là một phần không thể thiếu của nghệ thuật. Hãy cùng cất lên câu hát NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC nhé!!!

  1. CHARLIE SIMPSON (THE MASKED SINGER UK)

Charlie Simpson chính là quán quân của chương trình The Masked Singer Anh Quốc 2023. Anh trước đó được biết nhiều đến với vai trò ca sĩ hát chính của ban nhạc Pop Busted. Trong cuộc thi, anh ẩn danh với hình dạng một chú tê giác khoác trên mình trang phục đấu bò và trình diễn 3 ca khúc, bao gồm “Before you go” của Lewis Capaldi. Chia sẻ về việc lựa chọn trang phục tê giác, Charlie muốn dùng nó như là một cách để thể hiện một phần của gia đình mình khi vợ anh, Anna Bannard, sinh ra tại Kenya và anh đã có cơ hội chiêm ngưỡng những con tê giác quý hiếm tại đất nước châu Phi này.

2. WENDELL SAILOR (THE MASKED SINGER AU)

“Shawty had them Apple Bottom jeans (Jeans), boots with the fur (With the fur)

The whole club was lookin’ at her…”

Khi nghe bài hát Low, bạn nghĩ đến ai? Flo Rida? T-Pain? Hay Jessica? Ngoài ba cái tên kể trên, chúng ta còn có Wendell Sailor nữa đấy! Wendell Jermaine Sailor là một ngôi sao Rugby người Úc và quyết định tham gia đấu trường âm nhạc ẩn danh để “thử thách bản thân”. Wendell khuấy động sân khấu bằng bản hit đình đám một thời của Flo Rida, “Low”, dưới dạng một Chiến Binh Tê Giác đúng nghĩa với thân hình đồ sộ, gai góc. Mặc dù không được đi vào vòng kế tiếp, nhưng đây sẽ là một trải nghiệm đáng nhớ với cầu thủ Rugby Xứ Chuột Túi.

3. KURT DARREN (THE MASKED SINGER SA)

Kurt Johan van Heerden được biết đến nhiều hơn qua cái tên Kurt Darren. Ông là nhạc sĩ, ca sĩ, và thậm chí người dẫn chương trình Nam Phi. Con đường nghệ thuật của Kurt bắt đầu khi ông cho ra mắt album đầu tay For Your Precious Love vào năm 1995 và đã dành 7 giải thưởng âm nhạc South African Awards từ 2007 đến 2011. Đến với cuộc thi The Masked Singer Nam Phi, Kurt cải trang thành một chú tê giác với dáng vẻ phong trần trình bày ca khúc “Jerusalema”.

4. CHAU KHAI PHONG (THE MASKED SINGER VN)

Châu Khải Phong, tên thật là Lê Văn Thuận, sinh tại Nghệ An, Việt Nam. Với tài năng là sáng tác, chơi các loại nhạc cụ như guitar và organ, anh sáng tác những ca khúc chủ đề tình yêu cho giới trẻ. Đến với cuộc thi Người Ấy Là Ai? (The Masked Singer VN), Phong trình diễn bài hát Thay Tôi Yêu Cô Ấy dưới trang phục Tê Giác Ngộ Nghĩnh.

5. OLESKII TRYTENKO (THE MASKED SINGER UA)

Oleksii Trytenko là một diễn viên người Ukraine. Anh tham gia cuộc thi The Masked Singer UA mùa đầu tiên với trang phục tê giác đấm bốc, và được nhiều người xem là tạo hình tê giác đẹp và chất nhất trong số các cuộc thi ca hát ẩn danh. Oleskii đã trải qua 12 tuần thi với 12 bài hát, và dành hạng 3 chung cuộc.

6. BARRY ZITO (THE MASKED SINGER US)

The Masked Singer phiên bản Mỹ mùa 3 cũng có một nhân vật tê giác, The Rhino, với bộ trang phục không quân truyền thống. Nhân dạng của The Rhino là Barry Zito, cựu cầu thủ bóng chày MLB. Không phải là những bản hit sôi động, mà chính ca khúc “Humble And Kind” của Tim McGraw đã chạm đến trái tim của người nghe và ban giám khảo. Thậm chí, màn trình diễn của Barry khiến cho một trong những ban giám khảo, Nicole Scherzinger, rơi lệ.

7. MIRO (THE MASKED SINGER BUL)

“Everybody!!!”

Có thể nói “Everybody” của Backstreet Boys là một trong những bài hát đã đi vào lòng những thế hệ trẻ ở khắp nơi với giai điệu sôi động và vũ đạo cháy hết mình của nhóm nhạc. Hôm nay album chúng tôi cũng đem đến cho các bạn bài hát này qua phần trình diễn của The Rhino từ The Masked Singer Bulgaria mùa 3. The Rhino, hay Носорогът trong tiếng Bulgaria, có ngoại hình đen bóng với những góc cạnh gai góc, tạo nên một phiên bản tê giác mới lạ trong cuộc thi. Đằng sau chiếc mặt nạ chính là Miro (Miroslav Kostadinov), ca sĩ người Bulgaria từng đại diện nước nhà tham dự Eurovision Song Contest 2010. Sau cuộc thi, anh giành hạng 3 chung cuộc.

8. TIM DOUWSMA (THE MASKED SINGER NL)

Ca khúc thứ 8 và cũng là cuối cùng trong album “DARK SIDE OF THE MOON” thuộc về “Titanium” hát bởi The Rhino của The Masked Singer Hà Lan. Trong cuộc thi, trang phục The Rhino từ xứ sở hoa Tulip được lấy cảm hứng từ bộ giáp thời Trung Cổ với chất liệu da màu nâu. Ngoài ra, nhóm thiết kế cũng dựa trên hình mẫu tê giác Châu Á để tạo nên một bộ trang phục ấn tượng. Người diện bộ đồ tê giác là Tim Douwsma, ca sĩ người Hà Lan, và anh đứng ở vị trí Á quân chung cuộc.

 

 

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #3:  ĐÃ ĐẾN LÚC BIẾN HÌNH RỒI!!!

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #3: ĐÃ ĐẾN LÚC BIẾN HÌNH RỒI!!!

Chào mừng các bạn đã quay lại với series “Tê giác trong văn hóa đại chúng”, 

Hôm nay WILD RHINO chúng tôi hân hạnh thông báo phát hành tạp chí “TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #3: ĐÃ ĐẾN LÚC BIẾN HÌNH RỒI!!!”. Số tạp chí lần này sẽ điểm tên những chiến binh từ những chiến đội Super Sentai được lấy cảm hứng từ loài tê giác với sức mạnh vô song, sự bền bỉ, và lòng quả cảm không khất phục trước cái ác!

Hãy cùng xem qua những nhân vật được gọi tên trong số lần này nhé!!!

Cube Rhino (Doubutsu Sentai Zyuohger)

Green Sai (Choujuu Sentai Liveman)

Juken God SaiDain (Juken Sentai Gekiranger)

Sai Headder (Tensou Sentai Goseiger)

Vẻ ngoài uy nghiêm, chiếc sừng đầy kiêu hãnh, và lớp da tựa như giáp đã truyền cảm hứng rất nhiều cho những chiến binh từ những bộ phim Tokusatsu, cũng nhờ vậy mà hình tượng tê giác được lan tỏa đến những em nhỏ, thậm chí cả người lớn! Vì vậy, hãy cùng nhau NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC nhé!!!

  1. CUBE RHINO (DOUBUTSU SENTAI ZYUOHGER)

“Bản năng thức tỉnh!!!”

Chủ đề về động vật thường hay xuất hiện ở nhiều chiến đội nhà Super Sentai như Gaoranger, Liveman, Goseiger, Kyuranger, vân vân. Trước đó chúng ta đã đề cập đến Gao Rhino của những chiến binh Gao, lần này sẽ là Cube Rhino của Zyuoh The World từ Doubutsu Sentai Zyuohger. Với mô-típ động vật kết hợp với những khối rubik, Cube Rhino là một chiếc xe tải khổng lồ với hình dáng tê giác. Nhiệm vụ của Cube Rhino bao gồm vận chuyển Cube Wolf và Cube Crocodile đến chiến trường để chiến đấu và hợp thể, ngoài ra nó có thể san phẳng những chướng ngại phía trước nhờ thân hình đồ sộ của mình. Khi kết hợp thành Doubutsu Gattai Tousai Zyuoh, Cube Rhino sẽ trở phần thân, tay trái và chân trong khi cánh tay phải và đầu đến từ Cube Wolf và Cube Crocodile.

2. GREEN SAI (CHOUJYU SENTAI LIVEMAN)

“Green Sai!!!”

Một sự thật thú vị là Choujyu Sentai Liveman là chiến đội mang mô-típđộng vật đầu tiên, và Green Sai chính là chiến binh tê giác đầu tiên của dòng phim Super Sentai. Nhân dạng của Green Sai là Jun’ichi Aikawa, một cầu thủ rugby và là thành viên nhỏ tuổi nhất của chiến đội Liveman. Green Sai là một Liveman dựa trên loài tê giác với tông màu chủ đạo xanh lá-trắng, Ngoài ra, Green Sai còn sở hữu Sai Fire, một hệ thống tên lửa với hình dạng tê giác.

3. JUKEN GOD SAIDAIN (JUKEN SENTAI GEKIRANGER)

“JUKEN HENKEI!!!”

Cái tên thứ ba thuộc về Juken God SaiDain, một GekiBeast của Ken Hisatsu hay GekiChopper. Xuất hiện lần đầu trong tập 34 (“Gowan-Gowan’s Dain-Dain! Beast Fist Giant God, Comes”) của Gekiranger, SaiDain là một con tê giác trắng, sừng vàng với thân hình khổng lồ và cao đến hơn 52 m, rộng 58 m, và nặng đến hàng ngàn tấn! Bên cạnh dạng tê giác, SaiDain có thể trở thành một cỗ máy dạng người hay Beast-Fist Giant God SaiDaiOh. Ở dạng này, sừng của SaiDaiOh trở thành một thanh đại kiếm (Sai Dai Ken) còn phần lưng trở thành tấm khiên với chữ Kanji “大”, nghĩa là “To lớn”. Để gia tăng sức mạnh trước đối thủ, SaiDain có thể hợp thể với các GekiBeast khác để hình thành các robot mạnh mẽ hơn như SaiDaiGekiRinTohja, SaiDaiGekiFire, SaiDaiGekiTohja, và Dai Go Go Ju!

4. SAI HEADDER (TENSOU SENTAI GOSEIGER)

“Combine!!!”

Cái tên cuối cùng của số hôm nay thuộc về Sai Headder từ Tensou Sentai Goseiger. Nếu không có chữ “Sai” (nghĩa là “Tê giác” trong tiếng Nhật), có lẽ mọi người sẽ lầm tưởng mecha này dựa trên loài chuột chũi do tập tính đào đất của loài này tương đồng với chiếc máy khoan. Nhưng không, Sai Headder là một Gosei Headder dựa trên hình mẫu tê giác với chiếc sừng được điều chỉnh để thành một mũi khoan gây sát thương. Sai Headder thuộc Landick Brothers, bộ ba bao gồm Sai Headder, Kuwaga Headder, và Tyranno Headder. Khi hợp thể cùng với Gosei Great, hợp thể mới tên Landick Gosei Great được hình thành với Sai Headder nằm ở chân phải, góp phần quan trọng trong tuyệt kĩ Victory Charge.

RHINO 101: CẤU TẠO SỪNG TÊ GIÁC

RHINO 101: CẤU TẠO SỪNG TÊ GIÁC

Sừng tê giác từ lâu đã là mục tiêu của nhiều người bởi niềm tin sai lệch rằng thành phần có trong sừng tê giác sẽ giúp trị bách bệnh, thậm chí cả ung thư. Điều này vô hình chung đã tạo nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác, tạo điều kiện cho những tên thợ săn nhẫn tâm giết hại những cá thể tê giác để lấy sừng, đẩy những loài tê giác từ Á châu và Phi châu đến bờ vực tuyệt chủng.

Liệu sừng tê giác có đúng là thần dược có thể chữa được bách bệnh như những gì vẫn đồn thổi? Liệu một thứ như vậy có thách thức những phương pháp chữa bệnh của Tây Y và Đông Y?

Hãy cùng WILD RHINO có cái nhìn chi tiết hơn bên trong sừng tê giác để cho thấy rằng sừng tê giác không phải là thần dược và KHÔNG MỘT AI CẦN SỪNG TÊ GIÁC NGOÀI CHÍNH TÊ GIÁC nhé!

1.Protein Keratin và quá trình Keratin Hóa

Chúng ta luôn được tuyên truyền rằng sừng tê giác có thành phần chính là keratin, đây cũng là thành phần làm nên móng tay, móng guốc, móng vuốt và mỏ chim,.v.v. Keratin về cơ bản là vật liệu sinh học với những protein dạng sợi hoặc vô định hình.  Nhóm protein dạng sợi được gọi chung là protein keratin.

Protein keratin có cấu trúc xoắn ốc alpha (thường được tìm thấy ở da, lông, sừng của động vật) và có hai loại: loại I và loại II. Keratin loại I có tính acid so với loại II có tính base. Cả hai loại này đều có cấu trúc xoắn ốc alpha (thường được tìm thấy ở da, lông, sừng của động vật). Protein keratin không hoạt động đơn lẻ, chúng tạo thành một mạng lưới trải dài khắp tế bào chất. Cụ thể, hai protein keratin liên kết thông qua các miền trung tâm của chúng để tạo thành một cuộn xoắn ốc song song xung quanh chúng, một phức hợp 2 protein keratin như vậy có thể bao gồm hai protein cùng hoặc khác loại (còn gọi là dimer). Các dimer tiếp tục kết hợp với nhau tạo thành một phức hợp 4 protein, hay tetramer. Tiếp đó, sự kết hợp của 8 tetramer tạo thành một sợi đơn vị (Unit-length filament). Các sợi đơn vị này nối liên tiếp nhau, hình thành nên sợi keratin. Các sợi keratin trải dài khắp tế bào biểu mô và kết nối với những tế bào xung quanh thông qua cấu trúc cầu nối gian bào, hay desmosome. Sự kết dính chặt chẽ giữa các tế bào sừng đảm bảo hạn chế tác động cơ học từ bên ngoài.

Ảnh 1. Protein keratin và sự hình thành sợi keratin. Nguồn ảnh: Courtesy, Julie V Schaffer, MD.

Vậy protein keratin được tạo ra từ đâu? Từ lớp biểu bì bao quanh bên ngoài cơ thể, cụ thể là lớp thượng bì. Lớp thượng bì phân hóa thành 4 lớp nhỏ (Ảnh 2):

  • Lớp nền (Stratum basal)
  • Lớp gai (Stratum spinosum)
  • Lớp hạt (Stratum granulosum)
  • Lớp sừng (Stratum corneum)

Ảnh 2. Các lớp của cấu trúc thượng bì (Epidermis).

Lớp nền là nơi có những tế bào gốc (những tế bào có khả năng biệt hóa thành những tế bào với những chức năng nhất định) liên tục phân chia. Tại đây, những tế bào gốc có thể biệt hóa thành những tế bào sản sinh keratin (hay các keratinocyte). Các keratinocyte này tiếp tục được đẩy lên các lớp cao hơn và dần dần nhân và những bào quan khác dần tiêu biến, chỉ còn lại những bó sợi keratin dày đặc ở tế bào chất. Cuối cùng, các tế bào keratinocyte chết và chỉ còn những tế bào sừng dẹt chồng chất lên nhau, tạo thành một bức tường vững chắc của cấu trúc biểu bì. Quá trình biệt hóa thành tế bào sừng, sản sinh keratin, và sự chết của tế bào thay thể bằng những sợi keratin còn được gọi là sự keratin hóa (keratinization).

2. Cấu trúc của sừng tê giác

Như vậy chúng ta đã có những khái niệm của protein keratin cũng như cách lớp sừng được hình thành. Vậy giờ đến lúc tìm hiểu về cấu trúc của sừng tê giác thôi!

Xét về mặt cấu trúc, sừng tê giác lại giống với móng guốc ở nhóm thú móng guốc như ngựa, trâu, bò,.v.v. Sừng tê giác được cắm vào lớp hạ bì bao phủ xương mũi phía trước (Ảnh 3). Trên bề mặt của hạ bì tạo thành những nhú bì (dermal papillae). Bao quanh những nhú bì là lớp thượng bì (Ảnh 4). Tại đây, sừng tê giác được hình thành với những cấu trúc hình trụ, còn gọi là những “ống sừng” (horn tubule) sắp xếp chặt chẽ với nhau. Những ống sừng được hình thành từ lớp thượng bì vây quanh hai bên và ở đầu nhú bì (Ảnh 4), các ống sừng bao gồm khoảng 40 lớp mỏng tế bào dẹt và có đường kính từ 300-500 um (Ảnh 6).

Ống sừng đan xen bởi một ma trận liên sừng (intertubular matrix) (Ảnh 5). Cấu trúc liên sừng được tạo ra từ hai bên của mỗi nhú bì cùng với vùng lõm giữa các nhú bì. Những tế bào thuộc ma trận này không tạo nên một cấu trúc nhất định.

Với một cấu trúc phức tạp nhưng đầy thú vị vừa nêu trên, sừng tê giác có được một sự cứng cáp, qua đó đóng vai trò lớn trong nhiều hành vi tự nhiên của loài thú lớn này như giao tranh giữa những con đực, phòng thủ trước thú săn mồi, xới đất,…

Ảnh 3. Mặt cắt đứng dọc của sừng tê giác trắng (Ceratotherium simum). Ảnh tham khảo từ ĐH Ohio.

Ảnh 4. Hình ảnh mô tả mô liên kết (CT), nhú bì (DP), cùng với lớp thượng bì (E) bao phủ nhú bì. Mũi tên biểu thị chiều phát triển của tế bào sừng từ lớp thượng bì. Ảnh tham khảo từ Boy và các cộng sự (2015).

Ảnh 5. Mặt cắt ngang sừng tê giác trắng. Các ống sừng (horn tubule) sắp xếp chặt chẽ với nhau trong ma trận liên sừng (intertubular matrix). Ảnh tham khảo từ Hieronymus và cộng sự (2006).

Ảnh 6. Mô tả rõ hơn những ống sừng sắp xếp khít với nhau. Mỗi ống sừng có 40 lớp tế bào sừng hóa cùng với vùng thùy trung tâm. Ảnh tham khảo từ Ryder (1962). 

3. Lõi sừng tê giác có gì đặc biệt?

Khi quan sát những chiếc sừng tê giác, ta dễ thấy ở vùng lõi  bên trong có màu tối hơn so với vùng bên ngoài cùng với phần đỉnh nhọn tựa như cây bút chì (Ảnh 7 và Ảnh 8). Nguyên nhân cho việc này chính là sự tập trung dày đặc calcium và sắc tố melanin. Calcium làm cho lõi sừng cứng hơn, đồng thời melanin bảo vệ lõi khỏi bị tác động bởi tia UV từ mặt trời. Trong khi đó, phần bên ngoài lại mềm hơn và dễ bị tổn thương hơn bởi tia tử ngoại và những va chạm.

Ảnh 7. Sừng tê giác bị thu giữ làm tang vật. Vùng lõi của sừng có màu tối hơn so với vùng xung quanh lõi. Nguồn ảnh: Reuters.

Ảnh 8. Trái: ảnh chụp CT và dưới tia cực tím của sừng tê giác. Phải: Hình ảnh minh họa hộp sọ tê giác cùng với sừng tê giác dựa trên ảnh chụp CT. Có thể thấy vùng lõi sừng có màu đậm hơn do sự phân bố dày đặc calcium và melanin. Nguồn ảnh: ĐH Ohio.

4. Hình thái của sừng tê giác

Một đặc điểm của sừng tê giác nằm ở hình dạng của nó: một hình nón (Ảnh 9). Hieronymus và các cộng sự (2006) chỉ ra hàm lượng cao của calcium cùng melanin ở vùng trung tâm bên trong sừng tê giác và sự bào mòn sừng qua một thời gian dài do tia UV, tính cứng rắn ở những mô sừng cũ bị giảm sút, và những hành vi như tấn công, phòng thủ, đào bới đất là những nguyên nhân đằng sau hình dạng quen thuộc của sừng tê giác. Nếu thiếu đi những yếu tố trên, sừng tê giác đã có thể có hình trụ hơi cong nhẹ.

Boy cùng các cộng sự (2015) cũng nêu thêm một cơ chế đằng sau hình nón của sừng tê giác. Bằng cách phân tích phần đáy sừng của sáu cá thể tê giác trắng, họ phát hiện rằng màng đáy thượng bì lún vào mô liên kết ở bên dưới. Chính điều này khiến các nhú bì ở vùng ngoại vi hơi nghiêng nhẹ về phía giữa của sừng, do đó lớp tế bào sừng hóa khi được đẩy lên sẽ giao nhau tại vùng trung tâm. Kết quả là một chiếc sừng có cấu trúc hình nón được hình thành (Ảnh 10).

Ảnh 9. Sừng tê giác có hình nón và đỉnh nhọn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Ảnh 10. Mặt cắt dọc đứng của sừng tê giác. Ta có thể thấy phần màng đáy thượng bì lún vào mô liên kết ở dưới, làm cho các nhú bì hơi nghiêng về phía chánh giữa của sừng, và cuối cùng hội tụ tại đỉnh sừng và dẫn đến cấu trúc hình nón của sừng tê giác. Ảnh tham khảo từ Boy và cộng sự (2015).

5. Lời kết

Có thể thấy, sừng tê giác sở hữu một cấu trúc độc đáo từ bên trong lẫn bên ngoài, từ thiết kế ống sừng trong ma trận liên sừng kết hợp với một lõi sừng dày đặc melanin và calcium đến hình dạng nón ở ngoài. Ngoài ra, chúng ta cũng nhận ra rằng ngoài những thông tin nêu trên, sừng tê giác chẳng có hợp chất thần kỳ nào có thể dùng cho y học và đương nhiên, chẳng thể trị ung thư như nhiều người đồn thổi. Những gì bộ phận này có chỉ là keratin, calcium, melanin, và một số thành phần khác giúp cho sừng tê giác trở nên vững chắc hơn trong những hành vi đời thường như chiến đấu, bảo vệ lãnh thổ mà thôi.

Đáng buồn thay, sừng tê giác vẫn bị xem là thần dược có thể chữa bách bệnh và là món hàng “hot” đắt đỏ tại chợ đen. Vô hình chung, suy nghĩ lệch lạc này đã tạo điều kiện cho những tên thợ săn xách súng và giết hại tê giác, đẩy giống loài này đến bên bờ tuyệt chủng. Vì lẽ này, hãy cùng WILD RHINO quyết tâm NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC để giúp loài tê giác SỐNG THÊM MỘT TRIỆU NĂM nữa nhé!

6. Tài liệu tham khảo

Boy, S. C., Raubenheimer, E. J., Marais, J., & Steenkamp, G. (2015). White rhinoceros Ceratotherium simum horn development and structure: a deceptive optical illusion. Journal of Zoology, 296(3), 161-166.

Keratin. Britannica.

Ryder, M. L. (1962). Structure of rhinoceros horn. Nature, 193(4821), 1199-1201.

Yang, S. (2011). A review of rhinoceros horn. ENGR3810 Structural Biomaterials, 1-10.

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #2: PHÁ ĐẢO THẾ GIỚI ẢO

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #2: PHÁ ĐẢO THẾ GIỚI ẢO

Chao xìn các Anh Hùng Tê Giác, 

Mọi người đã làm gì để tận hưởng mùa hè này rồi ? Chắc hẳn có bạn đang chu du khắp mọi miền Việt Nam hoặc nước ngoài, đi chơi với bạn bè, gia đình, hay chỉ đơn thuần là ngồi tại nhà bật máy tính, console và đắm mình vào những trò chơi điện tử với gameplay hấp dẫn và cốt truyện sâu sắc nè! 

Vậy hôm nay mời các bạn cùng WILD RHINO điểm mặt một số nhân vật gane dựa trên hình mẫu loài tê giác trong phần 2 của series “Tê giác trong văn hóa đại chúng” nhé!!!

Không để các bạn đợi lâu hơn nữa, GAME ON!

1.MAGNUS (DOTA 2)

Vị trí đầu tiên gọi tên Magnus, một vị tướng trong tựa game chiến thuật đình đám DOTA 2. Ông là một chiến binh mạnh mẽ thuộc tộc Magnoceros, một chủng tộc có hình dạng dựa trên loài tê giác với chiếc sừng đầy uy nghiêm và sống tại núi Joerlak. Số phận của tộc Magnoceros cũng như loài tê giác ngoài đời vậy, họ luôn bị đe dọa bởi những tên thợ săn chỉ răm rắp muốn tước đi những chiếc sừng vì sự quý hiếm của chúng, hơn cả bất kì hợp kim nào. Magnus là một chiến binh tê giác vĩ đại và ông luôn chiến đấu hết mình để đảm bảo sự tồn tại của giống loài mình. Sau mỗi trận đánh, móng guốc và sừng của ông luôn đẫm máu kẻ thù. 

2. WOOLY RHINO (WORLD OF WARCRAFT)

Với một tựa game nhập vai thế giới mở như World of Warcraft, thú cưỡi là một phần không thể thiếu khi chúng là những người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường thực hiện các quest, khám phá mọi ngõ ngách của những vùng đất rộng lớn trong game. Một trong những thú cưỡi của World of Warcraft là loài tê giác lông dày. Loài thú này có ngoại hình khá giống loài tê giác lông dày thời tiền sử nhưng lại có đến 10 sừng trên đầu và có vẻ ngoài khá hiếu chiến. Chúng được tìm thấy tại Lãnh Nguyên Borean nằm ở rìa phía tây nam của Northrend.

3. WOOLY RHINO (THE LEGEND OF ZELDA: BREATH OF THE WIND)

Tiếp theo sẽ là loài Tê Giác Sừng Lớn thuộc vũ trụ The Legend of Zelda: Breath of The Wind. Khác với loài tê giác lông dày thuộc World of Warcraft, loài tê giác của tựa game nhà Nintendo lại có phần tương đồng với loài tê giác lông dày thời tiền sử hơn. Loài tê giác này phân bố ở vùng núi Hebro và cao nguyên Gerudo. Vì đặc điểm khí hậu lạnh và đầy tuyết rơi, loài tê giác này có bộ lông dày nhằm thích nghi với điều kiện môi trường lạnh, chúng cũng có hai chiếc sừng lớn và cong, cùng với một cơ thể đồ sộ.

4. KAOS LATIN GAMERS (LEAGUE OF LEGENDS)

Cái tên cuối cùng cũng thuộc về thế giới game, nhưng là về eSport. Đó chính là Kaos Latin Gamers hay KLG, một tổ chức thể thao điện tử Mĩ-Latin được thành lập tại Puerto Rico. KLG là một trong những tổ chức eSport Mĩ-Latin đầu tiên được khai sinh và tranh tài ở nhiều bộ môn như Starcraft II, Counter Strike: Global Offensive, DOTA 2, Liên Minh Huyền Thoại (LOL), etc. Biểu tượng của đội tuyển KLG là một chú tê giác màu đỏ với quyết tâm chinh phục những danh hiệu cao quý và sẵn sàng đánh bại mọi đối thủ cản đường. Các game thủ LOL chắc hẳn biết đội tuyển này qua vòng loại International Wildcard Qualifier 2016 để tìm đội tuyển xứng đáng dự Chung Kết Thế Giới năm ấy. KLG dù là đội tuyển yếu nhưng đã đánh bại đội tuyển Saigon Jokers (Việt Nam), chấm dứt chuỗi 6 trận toàn thua, xếp hạng 8 chung cuộc.