TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #8,  SKILL HAY SKIN?

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #8, SKILL HAY SKIN?

Trong kì nghỉ hè này, các Anh Hùng Tê Giác có cho mình kế hoạch đi chơi đâu không? Với những game thủ, hẳn các bạn dành thời gian bên chiếc laptop, chơi những tựa game yêu thích để đơn thuần giải trí hoặc “try hard” nhằm nâng cao kỹ năng và đạt thứ hạng cao. 

Trong thế giới trò chơi, bên cạnh kỹ năng cần có, thì skin của nhân vật, trang bị cũng khá quan trọng khi chúng giúp game thủ có thêm động lực để chơi hoặc làm cho nhân vật của người chơi trở nên khác biệt! Với POP CULTURE #8, hãy cùng WILD RHINO lướt qua những bộ skin dựa trên tê giác từ những tựa game khác nhau nhé!

  • PUNK RHINO BACKPACK FROM PUBG: MOBILE
  • GROCK’S CODENAME: RHINO FROM MOBILE LEGENDS: BANG BANG
  • BATTLE AND BEASTS RHINO FROM MINECRAFT
  • BEASTMODE SKIN FROM FORTNITE
  • RHINOS FROM ANIMAL CROSSING
  • R301’S LEGENDARY RHINO SKIN FROM APEX LEGEND

Loài tê giác mạnh mẽ và tuyệt đẹp đã, đang, và sẽ luôn là niềm cảm hứng cho các nhà phát triển game và các gamer. Vì vậy, hãy cùng WILD RHINO lan tỏa thông điệp BẢO VỆ TÊ GIÁC đến cộng đồng game thủ nói riêng và mọi người nói chung nha!!!

  1. PUNK RHINO BACKPACK FROM PUBG: MOBILE

“Winner winner, chicken dinner!”

Punk Rhino Backpack đơn giản là một chiếc ba lô sinh tồn trong PUBG được diện vẻ ngoài của một chú tê giác gai góc mang phong cách thường thấy ở những người đam mê Punk Rock. Punk Rhino Backpack đi kèm với Ragtag Goon Helmet trong sự kiện battle pass mùa 16 của tựa game này.

2.  GROCK’S CODENAME: RHINO FROM MOBILE LEGENDS: BANG BANG

Grock là một vị tướng quen thuộc đối với fan của tựa game chiến thuật Mobile Legends: Bang Bang. Với biệt danh “Pháo Đài Khổng Lồ”, Grock được khai thác với vai trò Tanker (đỡ đòn), dù lượng sát thương mà Grock gây ra ngay từ đầu trận là rất kinh khủng. Và như bao vị tướng khác, Grock cũng được nhà phát hành game nhiều diện mạo khác nhau, trong số đó là Codename: Rhino. Không còn là cục đá to lớn biết đi nữa, bộ skin này giúp Grock trở thành một robot tê giác lực lưỡng sẵn sàng càn quét bất kì kẻ địch và cứ thế băng băng tiến về hủy diệt trụ và nhà chính đối phương.

3.  BATTLE AND BEASTS RHINO FROM MINECRAFT

Minecraft là một tựa game sandbox tuyệt vời bởi người chơi được thỏa sức sáng tạo thế giới của riêng mình. Do đó, các fan minecraft cũng sẽ muốn có một ngoại hình của riêng mình chứ không chỉ sử dụng mỗi Steve hay Alex để khám phá thế giới rộng lớn của tựa game này rồi! Vì vậy Mojang Studios đã đem đến những gói skin đa dạng như “Battle & Beasts” để giúp gamers hóa thân thành các loài động vật quen thuộc, và tất nhiên là có cả tê giác nữa!

4.  BEASTMODE SKIN FROM FORTNITE

Beastmode là skin Sử Thi mà bạn có thể mua với giá 1500 V-bucks trong hệ thống cửa hàng vật phẩm của tựa game Fortnite. Một trong số ngoại hình mà người chơi có thể chọn là Rhino, một bộ giáp cơ học màu xanh-đen có số hiệu 29 với chiếc mũ hình tê giác tô điểm bởi chiếc sừng đỏ bắt mắt!

5.  RHINOS FROM ANIMAL CROSSING

Hãy cùng chuyển qua các bạn tê giác từ một game thân thiện với trẻ em đến từ nhà Nintendo nhé: đó là Animal Crossing! Trong thế giới này, bạn có thể gặp những cư dân tê giác hai sừng với những ngoại hình đầy sắc màu ở những địa điểm khác nhau. Hiện Animal Crossing có 9 nhân vật tê giác bao gồm Azalea, Hornsby, Merengue, Patricia, Renée, Rhonda, Spike, Tank, và Tiara với những tính cách khác nhau.

6.  R301’S LEGENDARY RHINO SKIN FROM APEX LEGEND

Cái tên cuối cùng trong số POP CULTURE ngày hôm nay gọi tên skin huyền thoại của khẩu súng trường R301 của tựa game FPS đình đám APEX LEGEND: The Golden và Iron Rampage. Với hai lớp skin này, R301 khoác lên mình một vẻ ngoài mới lạ với thiết kế đầu tê giác uy lực nằm ở đầu súng và ở phần gần báng báng súng. 

 

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG X STAR WARS DAY

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG X STAR WARS DAY

Hỡi các Anh Hùng Tê Giác ở khắp ngân hà!

Hôm nay chính là ngày Star Wars, diễn ra vào 04/05 hằng năm! Đây là dịp để các fan Star Wars nói riêng và fan dòng phim Sci-fi nói chung tôn vinh thương hiệu “Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao”, một franchise đình đám đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa đại chúng! 

Star Wars từ lâu đã khiến cho chúng ta chìm đắm vào một vũ trụ bao la rộng lớn với nhiều công nghệ siêu tân tiến như phi thuyền với vận tốc ánh sáng, các Death Star khổng lồ, và thanh kiếm Light Saber trứ danh. Bên cạnh đó, phim còn cho khán giả chứng kiến nhiều loài sinh vật từ khắp nơi trong thiên hà như Jawas, Hutts, Gungans, etc. 

Đây cũng lúc chúng ta nhận ra rằng không chỉ Trái Đất mới có tê giác đâu! Ở một hành tinh xa xôi tên Arvala-7, có một sinh vật to lớn và mạnh mẽ tựa như loài tê giác vậy: MUDHORN!

Ảnh 1. Tạo hình của Mudhorn trong series “The Mandalorian”.

Mudhorn là một loài sinh vật cư ngụ ở Arvala-7, một hành tinh khô cằn và đầy núi đá. Xét về ngoại hình, Mudhorn có một cơ thể to lớn, được bao phủ bởi lớp lông màu nâu đậm, mắt vàng nâu và ở phần mũi có một chiếc sừng dài và đầy uy lực. Tạo hình của chúng có nét tương đồng với loài tê giác ở Trái Đất, đặc biệt là loài tê giác Elasmotherium khi cả hai đều cao to, có lớp lông dày, và một chiếc sừng dài và nhọn để tấn công hoặc tự vệ. Có lẽ vì vậy mà một trong những biệt danh của Elasmotherium là “Mudhorn”. Tuy vậy, Mudhorn có tập tính đẻ trứng chứ không đẻ con.

Ảnh 2. Mudhorn có nét tương đồng với loài tê giác tiền sử Elasmotherium.

Dù là một phần của vũ trụ Star Wars, Mudhorn xuất hiện chủ yếu trong series “The Mandalorian” với màn chào sân ở “Chapter 2: The Child” , nơi mà các khán giả có thể chiêm ngưỡng vẻ ngoài lực lưỡng và sức mạnh của loài thú này. Ngoài ra, chúng còn được nhắc đến qua các sản phẩm khác thuộc Star Wars như Star Wars Jedi: Survivor, The Mandalorian: Allies & Enemies, Hunters: Battle for the Arena, The High Republic: Escape from Valo, etc. 

Không biết ở một vũ trụ rộng mênh mông của thương hiệu Star Wars còn có sinh vật nào giống tê giác không nhỉ? Các Anh Hùng Tê Giác nào là fan cứng của phim thì hãy cho WILD RHINO biết nhé!

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #7 VẺ ĐẸP TRƯỜNG TỒN VỚI THỜI GIAN

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #7 VẺ ĐẸP TRƯỜNG TỒN VỚI THỜI GIAN

“Mục đích của nghệ thuật là rửa trôi bụi bặm của cuộc sống đời thường khỏi tâm hồn của chúng ta.” 

  • Pablo Picasso – 

Quả thật, nghệ thuật là một phần không thể thiếu trong đời sống con người. Nghệ thuật không chỉ đem đến cho ta những sự thăng hoa về mặt thị giác mà còn ẩn chứa những thông điệp sâu sắc ở nhiều vấn đề xã hội. Nhờ đó mà những tác phẩm nghệ thuật trở nên có giá trị cho đời, mãi trường tồn với thời gian, và thể hiện cái tài của người nghệ sĩ.  

Vậy sẽ như thế nào nếu ta kết hợp nghệ thuật với tê giác nhỉ? Hãy cùng WILD RHINO tìm hiệu những bức tượng được sáng tạo dựa trên hình mẫu loài tê giác nhé!

  • STATUE LE RHINOCEROS BY HENRI-ALFRED JACQUEMART
  • THE LAST THREE BY GILLIE AND MARC SCHATTNER
  • RISE UP RHINO BY GILLIE AND MARC SCHATTNER
  • THE WHITE RHINO WAS THINKING AHEAD WITH DOGMAN’S ENCOURAGEMENT BY GILLIE AND MARC SCHATTNER
  • JORDAN SPRIGG’S RHINOCEROSES
  • WILDAID’S BE THEIR BODHISATTVA

Một số tác phẩm cho ta một góc nhìn hài hước, ngộ nghĩnh về tê giác nhưng cũng có tác phẩm thể hiện tình cảnh đáng buồn mà loài thú quý hiếm này đang đối mặt ở ngoài tự nhiên để nâng cao nhận thức bảo tồn động vật hoang dã trong cộng đồng. Chính vì vậy, hãy cùng WILD RHINO NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC để chúng có thể tiếp tục tồn tại và tiếp tục trở thành một phần của văn hóa đại chúng!

  1. STATUE LE RHINOCEROS BY HENRI-ALFRED JACQUEMART

Khi tới Paris, bạn nghĩ đến gì? Tháp Eiffel trứ danh? Baguette? Thế còn tê giác thì sao? Ở tại Bảo Tàng Musée d’Orsay, có một tác phẩm điêu khác được dựa trên hình mẫu loài tê giác Ấn Độ (Rhinoceros unicornis) hiện phân bố tại Ấn Độ, Bhutan, Nepal, etc. Bức tượng này được làm nên bởi điêu khắc gia Henri-Alfred Jacquemart. Vốn được xem là Animalier (họa sĩ chuyên làm nên những tác phẩm chân thực về động vật), Jacquemart đã làm nên nhiều công trình điêu khắc của nhiều loài sinh vật, bao gồm tê giác, và hiện được trưng bày cho công chúng ở công viên, phòng trưng bày, viện bảo tàng, và quảng trường ở Pháp.

2. THE LAST THREE BY GILLIE AND MARC SCHATTNER

Du hí tại Astor Place, Thành Phố New York, khách du lịch sẽ bắt gặp một công trình điêu khắc đặc biệt: ba chú tê giác bằng đồng xếp chồng lên nhau và cao đến 17 foot. Đây là sự sáng tạo của hai nghệ sĩ Gillie và Marc Schattner sau khi họ có cơ hội gặp gỡ ba cá thể tê giác trắng phương Bắc cuối cùng tại Kenya: Sudan, Niajin, và Fatu. Tác phẩm này được tạo nên với thông điệp kêu gọi bảo tồn tê giác, vốn đang bị đe dọa đến mức tuyệt diệt. 

3. RISE UP RHINO BY GILLIE AND MARC SCHATTNER

Sau khi con tê giác trắng phương Bắc đực cuối cùng, Sudan, mất thì thế giới chỉ còn hai cá thể cái cuối cùng của phân loài tê giác này, Niajin và Fatu. Để kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ tê giác, Gillie và Marc tiếp tục đem đến công chúng tác phẩm “Rise Up Rhino” được đặt tại Westfield London, Anh Quốc: một chú tê giác trắng được nâng lên bởi Rabbitwoman và Dogman, các nhân vật quen thuộc của cặp đôi nghệ sĩ này. Họ kêu gọi mọi người tham gia và tương tác với công trình điêu khắc bằng cách ngồi, cùng  Rabbitwoman và Dogman nâng chú tê giác như một cách để trở thành những người bảo vệ tê giác.

4. THE WHITE RHINO WAS THINKING AHEAD WITH DOGMAN’S ENCOURAGEMENT

Tiếp theo vẫn là một tác phẩm điêu khắc đến từ Gillie và Marc nhưng lại có phần hài hước hơn. Công trình nghệ thuật bằng đồng này miêu tả một cuộc đấu trí giữa chú Tê Giác Trắng và Dogman trong một ván cờ vua. Gillie và Marc tin rằng những sản phẩm họ làm sẽ giúp thắp lên mối liên kết giữa con người và thiên nhiên, qua đó góp phần vào nỗ lực bảo vệ thiên nhiên.

5. JORDAN SPRIGG’S RHINOCEROSES

Đã bao giờ bạn nghĩ đến sự kết hợp giữa tê giác và phế liệu? Điêu khắc gia người Úc Jordan Sprigg sẽ cho bạn câu trả lời. Với những kim loại tái chế từ những máy móc cũ và bãi phế liệu từ vùng quê Tây Úc, anh có thể dựng nên những hình tượng loài tê giác trắng và tê giác đen mạnh mẽ mang phong cách steampunk. Ngoài tê giác, Sprigg còn chế tác đa dạng các loài thú khác như chuồn chuồn, dê núi, bò zebu, etc.

6. WILDAID’S BE THEIR BODHISATTVA

“Hãy là Bồ Tát của chúng” – Một chiến dịch năm 2019 của WildAid nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong vấn đề bảo tồn tê giác nói riêng và ĐVHD nói chung tại Việt Nam. Những tượng tê giác mất sừng, voi mất ngà, hay tê tê bị lột da được tạo tác cách công phu, đầy sống động và đặt trước Chùa Vĩnh Nghiêm, TP. HCM thể hiện tình cảnh các loài vật trên đang đối mặt. Trong thời gian các bức tượng trên còn hiện hữu ở chùa, người dân đã đến chụp hình và ngẫm nghĩ về số phận của những loài ĐVHD tại mảnh đất hình chữ S.

 

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #6 KAMEN R…HINO?

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #6 KAMEN R…HINO?

Chào mừng các bạn đã quay lại với chuyên mục “TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG” sau hơn hai tháng!

 

Đối với những bạn trẻ Việt Nam, Tokusatsu là một phần của tuổi thơ của bao người và đến nay có sức hút với phần đông khán giả dù họ đã lớn đi chăng nữa. Bên cạnh những Super Sentai, Gransazer, hay Ultraman thì không thể thiếu Kamen Rider, những dũng sĩ mặt nạ với thiết bị biến thân dạng thắt lưng và khẩu hiệu “Henshin!” quen thuộc. Trong số Pop Culture ngày hôm nay, hãy cùng WILD RHINO điểm danh những Rider mang trong mình motif tê giác nhé!

 

  • Sagohzo (Kamen Rider OOO)
  • Gai (Kamen Rider Ryuki)
  • Zetsumerise Key (Kamen Rider Thouser)
  • DX SaiDryer (Kamen Rider Build)
  • DX Kurosai Vistamp (Kamen Rider Revice)

1. Gai & Metalgelas (Kamen Rider Ryuki)

“HENSHIN!!!” 

Cái tên đầu tiên của bài hôm nay là Kamen Rider Gai thuộc Kamen Rider Ryuki. Nhân dạng của Gai là Jun Shibaura (thủ vai bởi Satoshi Ichijo), một sinh viên năm ba thuộc Đại Học Meirin. Ngoại hình của Gai được dựa trên hình dạng của loài tê giác với lớp giáp màu trắng xám cứng cáp và chiếc sừng biểu tượng của loài động vật này. Sử dụng lá bài Strike đem đến cho Gai Metalhorn, một thứ vũ khí đầu tê giác với chiếc sừng có thể gây sát thương cho đối thủ. Bên cạnh đó, lá bài Advent và Final Vent triệu hồi Metalgelas, con quái vật gương có hình dáng tê giác với vai trò hỗ trợ Gai trong việc tấn công các con quái vật cũng như các Rider khác. 

2. SAGOHZO (KAMEN RIDER OOO)

Sagohzo là một trong các form đến từ series “Kamen Rider OOO” với tổ hợp các medal: Sai, Gorilla, và Zou. Phần đầu của Sagohzo, hay Sai Head dựa trên hình mẫu đầu tê giác với chiếc sừng lớn. Sai Head được trang bị với những Gravid horn, O Quartz, Sai Sonar, Sai Eyes, Nose Blocker, Face Archer, và Line Drive.

3. AWAKENING ARSINO ZETSUMERISE KEY (KAMEN RIDER THOUSER)

Tiếp theo, chúng ta sẽ đề cập đến thiết bị biến thân của Kamen Rider Thouser. Mặc dù bộ giáp của Thouser không có đặc điểm rõ rệt của tê giác, chúng ta vẫn thấy trong Zetsumerise key của anh, cụ thể là Awaking Arsino Zetsumerise Key. Cụ thể, Key này dựa theo loài Arsinoitherium đã từng sống từ 36-27 triệu năm về trước. Arsinoitherium có cặp sừng to lớn trên phần mũi đi kèm với một cặp sừng nhỏ trên mắt. Dù có nét tương đồng với tê giác, nhưng chúng lại có mối quan hệ gần gũi với voi, lợn biển hơn.

4. DX SAIDRYER (KAMEN RIDER BUILD)

Đây là vật phẩm tiếp theo có liên hệ với tê giác. Kamen Rider Build SaiDryer không có form dáng đặc trưng của loài thú móng guốc này, nhưng một trong những fullbottle để biến thân, với tên gọi Sai Fullbottle, lại có hình dạng đầu tê giác với chiếc sừng đặc trưng. Build kết hợp Sai Fullbottle với Dryer Fullbottle để đạt form SaiDryer.

5. DX KUROSAI VISTAMP (KAMEN RIDER REVICE)

Vistamp là thiết bị có thể thu thập được chứa thông tin di truyền của nhiều loài sinh vật khác nhau và được sử dụng cho mục đích biến thân hoặc chuyển đổi qua các Genome form khác nhau. Kurosai vistamp chứa thông tin di truyền của loài tê giác đen (Diceros bicornis) và được dựa trên Kamen Rider Ghost.

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #5 MÙA ĐÔNG ĐẾN RỒI

TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #5 MÙA ĐÔNG ĐẾN RỒI

Tháng 12 đến rồi, nghĩa là không khí Giáng Sinh đã bắt đầu lan tỏa khắp mọi miền đất nước Việt Nam và thế giới rồi đấy! Nhắc đến mùa Giáng Sinh, chúng ta liền nghĩ đến một mùa lễ đông lạnh cùng với tuyết rơi khắp mọi cung đường. Vì vậy, hãy cùng WILD RHINO điểm tên những chú tê giác xuất hiện trong video game và điện ảnh nhân dịp mùa Giáng Sinh nhé!

Những bạn tê giác mở màn cho tháng 12 bao gồm:

  • Carl & Frank (Ice Age)
  • Woolly rhino (ARK: SURVIVAL EVOLVED)
  • Woolly rhino (Jurassic World: the game)
  • Elasmotherium (Jurassic World: the game)
  • Brontotherium (Jurassic World: the game)

Những nhân vật tê giác này không chỉ đem đến sự hứng thú cho những người xem phim và chơi game, đặc biệt là những em nhỏ, mà chúng còn cho ta thấy rằng tê giác đã tồn tại từ rất lâu trên Trái Đất, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ những loài tê giác hiện đang tồn tại! Vì vậy, hãy cùng WILD RHINO giúp cho tê giác SỐNG THÊM 1 TRIỆU NĂM NỮA NHÉ!!!

  1. CARL AND FRANK (ICE AGE)

Góp mặt trong “Kỷ Băng Hà”, Carl và Frank là hai nhân vật tê giác phản diện trong bộ phim. Tuy vậy, cả hai đều hành xử bình thường cho đến khi bị chú lười Sid phá đám phần salad ngon lành trước mặt và bị xúc phạm với lời nhận xét “Bọn tê giác các người thật sự có não bé tí đấy…” của Sid. Dựa theo vẻ ngoài và hình dáng chiếc sừng, ta có thể thấy Carl và Frank được dựa trên hình mẫu lần lượt của hai loài thuộc chi Emborotherium và Brontotherium. Dù có diện mạo tương đồng với tê giác, nhưng hai chi này lại nằm trong họ Brontotheriidae, một họ thú guốc lẻ chung với họ Rhinocerotidae bao gồm tê giác.

  1. WOOLLY RHINO (ARK: SURVIVAL EVOLVED)

Trong Ark, tê giác lông dày là loài Coelodonta utiliserro sống chủ yếu ở vùng lãnh nguyên và thảo nguyên của hòn đảo. Theo ghi chép từ trong game, loài tê giác lông dày có tính tình hiền lành và chỉ tỏ sự hung hăn khi bị loài động vật khác như người chơi tấn công. Đúng như tên gọi, loài tê giác này có một bộ lông dày để thích ứng với khí hậu lạnh đi kèm với một cặp sừng to lớn như một vũ khí để tấn công kẻ thù. Coelodonta utiliserro là loài có thể được thuần hóa bằng cách sử dụng Kibble hoặc các loại dâu. Người chơi có thể chế tạo yên để có thể cưỡi chúng và khiến cho bản thân ngầu hơn bao giờ hết!

  1. WOOLLY RHINO (JURASSIC WORLD: THE GAME)

Tê giác lông dày (Coelodonta antiquitatis) là một loài tê giác tiền sử từng sinh sống ở Bắc Mỹ, Âu châu, và Á châu ở thời Pleistocene. Đây cũng là loài tê giác gần gũi nhứt với tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis) hiện còn tồn tại ở châu Á. Tê giác lông dày có hai chiếc sừng dài ở đầu, phần thân được bao phủ bởi bộ lông dày, giúp chúng sinh tồn trong môi trường lạnh hiệu quả. Trong game Jurassic World: The Game, người chơi có thể nhận loài tê giác này thông qua các gói (pack): Big Easter Hunt Pack, Winning Easter Hunt Pack, Woolly Rhinoceros Pack, và Year Six Pack.

  1. ELASMOTHERIUM (JURASSIC WORLD: THE GAME)

Elasmotherium là chi tê giác thời tiền sử từng sống ở Á châu ở thời Pliocene và Pleistocene. Elasmotherium có một chiếc sừng dài và cao khoảng 2.7m và chúng cũng là một trong những loài thú thuộc Kỷ Thứ Ba đổ bộ vào tựa game Jurassic World. Một số gói để nhận Elasmotherium bao gồm Cenozoic Pack, Cenozoic Twins pack, Beasts of the Biodome Pack, vân vân. Trong cửa hàng, loài tê giác này có giá 1400 DNA. Khi đạt cấp tối đa, Elasmotherium có chỉ số tấn công 239, máu 766, và cho 204 xu/phút.

  1. BRONTOTHERIUM (JURASSIC WORLD: THE GAME)

Brontotherium là một chi thú móng guốc thuộc họ Brontotheriidae, đây là một họ thú guốc lẻ có hình dáng tương đồng với tê giác. Loài thú này đặc hữu ở Bắc Mỹ và sống ở thời Eocene muộn trong khoảng 4.1 triệu năm. Trong game, Brontotherium là loài Savannah VIP được nhận bằng Loyalty Points. Ngoài ra, người chơi có thể nhận Brontotherium thông qua các gói như Brontotherium VIP Pack, Solid Gold Pack, Big Wish Pack, và Winning Wish Pack. Khi đạt cấp 40, Brontotherium có chỉ số tấn công 1945, máu 3352, và cho 180 xu/ phút.

 

RHINO 101: KHI TÊ GIÁC GIAO TIẾP BẰNG PHÂN

RHINO 101: KHI TÊ GIÁC GIAO TIẾP BẰNG PHÂN

Đối với những loài động vật, việc thải ra những chất không cần thiết ở dạng phân hay nước tiểu là điều bình thường và cần thiết trong đời sống hằng ngày bởi lẽ điều này giúp loại bỏ những chất không cần thiết hoặc gây hại cho cơ thể sinh vật. Tê giác không phải là ngoại lệ khi chúng có thể nạp vào khoảng 50 kg thực vật mỗi ngày và phóng thích hơn 20 kg phân ra khỏi cơ thể.

Những “bãi chiến trường” được thải ra lại là một hình thức giao tiếp giữa những cá thể tê giác và còn là nguồn dinh dưỡng của một số loài chim và côn trùng. 

Hãy cùng WILD RHINO tìm hiểu phương thức giao tiếp thú vị này ở những bạn tê giác nhé!

  1. Chất thải trong đời sống động vật

Giao tiếp thông qua mùi từ nước tiểu và phân từ lâu đã là một phương thức mà các loài động vật sử dụng để nắm bắt những thông tin về đồng loại của mình như tình trạng sức khỏe, giới tính, khả năng giao phối,.v.v. Hươu cao cổ đực có hành vi liếm/uống nước tiểu của con cái để xem những cá thể này có sẵn sàng giao phối hay không. Linh dương Ả Rập (Gazella arabica) sử dụng những bãi phân để giao tiếp với đồng loại thông qua mùi hương của chất thải để phục vụ những mục đích khác nhau: con đực dùng cho việc bảo vệ lãnh thổ còn con cái sử dụng cho giao tiếp xã hội (Ảnh 1). Con người chúng ta từ xưa cũng khai thác những thông tin từ mẫu nước tiểu phục vụ cho y học. Thời Trung Cổ, những y sĩ sử dụng Bảng Tiết Niệu (Urine Wheel) để chẩn đoán bệnh dựa trên màu sắc, mùi, và cả vị của chất thải này (Ảnh 2).

Ảnh 1. Động vật có thể biết thông tin của đồng loại bằng cách liếm, uống nước tiểu hoặc ngửi mùi hương từ phân. A: hươu cao cổ Phương Bắc Nubian (Giraffa camelopardalis cf. camelopardalis); B: linh dương Ả Rập (Gazella arabica).

Ảnh 2. Bảng Tiết Niệu (Urine Wheel) từ thời Trung Cổ. Những mẫu nước tiểu được phân loại dựa theo màu sắc, mùi, và vị để chẩn đoán bệnh.

2. Khi phân và nước tiểu đóng vai trò “Profile của tê giác”

Tê giác cũng giao tiếp bằng khứu giác dựa trên mùi từ những bãi phân tập thể của chúng. Trong 5 loài tê giác còn tồn tại, tê giác trắng (Ceratotherium simum) là loài có tính bầy đàn cao nhứt trong các loài tê giác và thường có thể tập hợp thành 1 đàn gồm 15 cá thể (Ảnh 3). Duy chỉ có con đực thống trị sẽ sống một mình, bảo vệ lãnh thổ, cạnh tranh với những con đực khác, và giao phối với con cái. Vì vậy, bài viết hôm nay sẽ tập trung vào loài tê giác trắng.

Ảnh 3. Một nhóm tê giác trắng đang trong tư thế cảnh giác; chúng xếp thành một hình tròn, tai gióng cao, và mỗi thành viên của đàn hướng về mỗi phía khác nhau. Nguồn ảnh: International Rhino Foundation.

Trong một quần thể, tê giác trắng, bất kể độ tuổi hay giới tính, sẽ thải phân và nước tiểu của chúng tại những đống phân (Ảnh 4). Các nghiên cứu hành vi cho thấy những bãi chất thải này đóng vai trò như là trung tâm thông tin cho tương tác giữa con đực với con đực, con đực với con cái, và giữa những con cái với nhau chứ không chỉ đơn thuần là phương thức canh gác lãnh thổ. Con đực thống trị sẽ thải phân trực tiếp vào trung tâm của bãi phân, kết hợp với xới lớp phân bằng cách đá chi sau trước và sau khi xả thải (Ảnh 5); con cái thì chỉ thải ngoài rìa. 

Với khứu giác cực nhạy của mình, tê giác trắng có thể nhận biết sự hiện diện của đồng loại và chúng sẽ có những phản ứng khác tùy vào giới tính, tuổi:

  • Con đực cạnh tranh khác: coi như là một đối thủ, tăng tần suất quay lại bãi phân để có thể tiếp cận mùi lần nữa hoặc trực diện đối thủ cạnh tranh.
  • Con cái trong kì động dục: tăng số lần thăm lại bãi phân cũng như thời gian thực hiện hành vi ngửi mùi, và biểu lộ hành vi nhằm tiếp cận cá thể cái để giao phối.

Con đực nhỏ hơn hoặc con cái không trong kì động dục: không xem như là đối thủ cạnh tranh, con cái tiềm năng để giao phối.

Ảnh 4. Một bãi phân tập thể của loài tê giác trắng. Nguồn ảnh: GS. Adrian Shrader.

Ảnh 5. Hành vi dùng hai chi sau để sới lớp phân của con đực chiếm ưu thế. Nguồn ảnh: Thandablog, BioExpedition.

Những hành vi thú vị này đã tạo động lực cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu những thành phần có trong phân để lý giải khả năng nhận dạng những đối tượng khác nhau của tê giác. Nghiên cứu của Marneweck và cộng sự (2016) đã xác định hơn 200 hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC) thuộc 13 gốc chức năng bằng phương pháp sắc ký khí – quang phổ khối (Gas Chromatography/Mass Spectroscopy – GC/MS). Sau đó, nhóm nghiên cứu tạo nên những mẫu phân nhân tạo trộn lẫn với những thành phần hóa học bao gồm các VOC tiềm năng liên quan đến khả năng phân biệt các cá thể tê giác về giới tính, tuổi tác, và tính lãnh thổ. Những viên phân nhân tạo này sẽ được đặt ở bãi phân ngoài tự nhiên và những con đực thống trị sẽ được chọn để khảo sát hành vi của chúng khi tiếp xúc với bãi chất thải vốn có hỗn hợp mùi nhân tạo đề cập trước đó, ở các điều kiện khác nhau: Mùi của con đực cạnh tranh, mùi của con cái động dục, đối chứng (control).

Kết quả cho thấy có những VOC liên quan đến khả năng xác định đối tượng của tê giác trắng (Ảnh 67). Có bốn hợp chất bay như sau:

  • 2,3-dimethylundecane: phân biệt giới tính của cá thể tê giác.
  • Heptanal: phân biệt lớp tuổi.
  • Nonane: xác định con đực cạnh tranh tiềm năng.
  • 2,6-dimethylundecane: xác định tình trạng động dục ở con cái.

Trong bài báo, nhóm nghiên cứu cũng đề cập đến những cơ chế khả thi:

  • Di truyền
  • Sự biến thiên lượng hormone và sự phát triển thể chất ở tê giác
  • Hệ vi sinh vật của từng cá thể
  • Tương tác trực tiếp và gián tiếp giữa các hormone và hệ vi sinh vật trong cơ thể

Ngoài ra, một nghiên cứu hành vi tê giác trắng đực của Marneweck và cộng sự (2018) cũng đưa ra giả thuyết rằng hành vi sới phân ở con đực nhằm khuếch đại tín hiệu mùi từ chất thải.

Ảnh 6. Tầm quan trọng của các hợp chất hữu cơ được phân tích bởi đồ thị MDA. Nguồn ảnh: Marneweck et al., 2016

Ảnh 7. Bốn hợp chất hữu cơ bay hơi được Marneweck và các cộng sự (2016) phát hiện có liên quan đến khả năng nhận biết tuổi, giới tính, tính cạnh tranh của tê giác.

3. Vai trò khác của phân tê giác trong hệ sinh thái

Như bao loài động vật khác, tê giác cũng thải ra một lượng phân đáng kể vào môi trường, thường phân của tê giác sẽ được thải ở khu vực mà chúng được chất đầy lên phục vụ cho mục đích đánh dấu lãnh thổ, giao tiếp với những cá thể tê giác khác. Bên cạnh hai mục đích nêu trên, phân của tê giác còn là nguồn dinh dưỡng cho những loài động vật khác. Ví dụ: loài bọ phân Scarabaeus nigroaeneus có thể được tìm thấy trong phân tê giác, những con bọ này sẽ lăn tròn những cục phân nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho những ấu trùng của chúng. Ngoài ra, phân tê giác có thể chứa những hạt giống từ những loài thực vật trong chế độ ăn uống của loài thú móng guốc này, những hạt giống này có thể được phân bố khắp nơi và phát triển thành cỏ cây, hoặc là nguồn dinh dưỡng cho những loài chim như loài chim mỏ sừng phương nam (Bucorvus leadbeateri), gà phi có mào (Guttera pucherani) (Ảnh 89).

Ảnh 8. Một số loài côn trùng có thể được tìm thấy trong phân tê giác. A: loài Scarabaeus nigroaeneus; B: loài Garreta unicolor. Nguồn ảnh: Alandmanson.

Ảnh 9. Một số loài chim tận dung phân tê giác như là một nguồn thức ăn cho chúng. A: gà phi có mào (Guttera pucherani);B: chim mỏ sừng phương nam (Bucorvus leadbeateri); C: chim mỏ sừng đỏ (Tockus sp.). Nguồn ảnh: TS. Ian MacDonald và TS. Jane Wiltshire.

4. Lời kết

Chất thải như phân và nước tiểu không chỉ chứa những thành phần không còn cần thiết cho cơ thể sinh vật mà còn chứa những chất hóa học cần thiết cho tương tác bằng khứu giác giữa đồng loại với nhau. Mùi tỏa ra từ những hợp chất hữu cơ trong bãi phân là một phương thức giao tiếp hiệu quả cho tê giác khi chúng có thể truy vấn những thông tin của đồng loại như giới tính, kì động dục, tính cạnh tranh của con đực, tuổi. 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. How Do Rhinos Communicate? — Chromatography Explores. Chromatography Today.
  2. Marneweck, C., Jürgens, A., & Shrader, A. M. (2017). Dung odors signal sex, age, and a territorial and estrous state in white rhinos. Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences, 284(1846), 20162376.
  3. Marneweck, C., Jürgens, A., & Shrader, A. M. (2018). Ritualized dung kicking by white rhino males amplifies olfactory signals but reduces odor duration. Journal of chemical ecology, 44, 875-885.
  4. What is a Rhino Midden? Wildlife Act Focused Conservation.