by Christine Roets | Oct 31, 2023 | Latest News
Âm nhạc là nghệ thuật tuyệt trần, nó giúp ta thư giãn, ngân nga những giai điệu bắt tay sau những tháng ngày làm việc mệt mỏi. Có thể nói mỗi nốt nhạc, mỗi ca từ tựa như những vị thuốc xoa dịu những nỗi đau và nâng cao cảm xúc của mỗi con người.
Vì lẽ đó, hãng thu âm WILD RHINO hôm nay hân hạnh phát hành album “DARK SIDE OF THE HORN”, lấy cảm hứng từ album đình đám “DARK SIDE OF THE MOON” của nhóm nhạc Pink Floyd.
Sản phẩm lần này của chúng tôi quy tụ những ca khúc đình đám khắp nơi trên thế giới được trình bày bởi những bạn Tê Giác từ cuộc thi The Masked Singer khắp năm châu với đa dạng thể loại sẽ đưa người nghe đến nhiều tầng cảm xúc khác nhau như vui vẻ, phấn chấn, máu lửa, hay thậm chí rơi lệ.
8 bài hát từ 8 giọng ca góp giọng trong album này bao gồm:
- Before you go – Charlie Simpson (UK)
- Low – Wendell Sailor (AU)
- Jerusalema – Kurt Darren (SA)
- Thay tôi yêu cô ấy – Chau Khai Phong (VN)
- ВИЩЕ НЕБА – Oleskii Trytenko (UA)
- Humble and kind – Barry Zito (US)
- Everybody – Miro (BUL)
- Titanium – Tim Douwsma (NL)
Chúng tôi mong rằng sản phẩm này sẽ giúp những Anh Hùng Tê Giác có thể cảm nhận những giai điệu bắt tai từ những ca từ của bài hát cũng như thấy được rằng hình tượng tê giác oai nghiêm, hùng dũng không chỉ là niềm cảm hứng cho video game, siêu anh hùng mà còn là một phần không thể thiếu của nghệ thuật. Hãy cùng cất lên câu hát NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC nhé!!!
- CHARLIE SIMPSON (THE MASKED SINGER UK)
Charlie Simpson chính là quán quân của chương trình The Masked Singer Anh Quốc 2023. Anh trước đó được biết nhiều đến với vai trò ca sĩ hát chính của ban nhạc Pop Busted. Trong cuộc thi, anh ẩn danh với hình dạng một chú tê giác khoác trên mình trang phục đấu bò và trình diễn 3 ca khúc, bao gồm “Before you go” của Lewis Capaldi. Chia sẻ về việc lựa chọn trang phục tê giác, Charlie muốn dùng nó như là một cách để thể hiện một phần của gia đình mình khi vợ anh, Anna Bannard, sinh ra tại Kenya và anh đã có cơ hội chiêm ngưỡng những con tê giác quý hiếm tại đất nước châu Phi này.

2. WENDELL SAILOR (THE MASKED SINGER AU)
“Shawty had them Apple Bottom jeans (Jeans), boots with the fur (With the fur)
The whole club was lookin’ at her…”
Khi nghe bài hát Low, bạn nghĩ đến ai? Flo Rida? T-Pain? Hay Jessica? Ngoài ba cái tên kể trên, chúng ta còn có Wendell Sailor nữa đấy! Wendell Jermaine Sailor là một ngôi sao Rugby người Úc và quyết định tham gia đấu trường âm nhạc ẩn danh để “thử thách bản thân”. Wendell khuấy động sân khấu bằng bản hit đình đám một thời của Flo Rida, “Low”, dưới dạng một Chiến Binh Tê Giác đúng nghĩa với thân hình đồ sộ, gai góc. Mặc dù không được đi vào vòng kế tiếp, nhưng đây sẽ là một trải nghiệm đáng nhớ với cầu thủ Rugby Xứ Chuột Túi.

3. KURT DARREN (THE MASKED SINGER SA)
Kurt Johan van Heerden được biết đến nhiều hơn qua cái tên Kurt Darren. Ông là nhạc sĩ, ca sĩ, và thậm chí người dẫn chương trình Nam Phi. Con đường nghệ thuật của Kurt bắt đầu khi ông cho ra mắt album đầu tay For Your Precious Love vào năm 1995 và đã dành 7 giải thưởng âm nhạc South African Awards từ 2007 đến 2011. Đến với cuộc thi The Masked Singer Nam Phi, Kurt cải trang thành một chú tê giác với dáng vẻ phong trần trình bày ca khúc “Jerusalema”.

4. CHAU KHAI PHONG (THE MASKED SINGER VN)
Châu Khải Phong, tên thật là Lê Văn Thuận, sinh tại Nghệ An, Việt Nam. Với tài năng là sáng tác, chơi các loại nhạc cụ như guitar và organ, anh sáng tác những ca khúc chủ đề tình yêu cho giới trẻ. Đến với cuộc thi Người Ấy Là Ai? (The Masked Singer VN), Phong trình diễn bài hát Thay Tôi Yêu Cô Ấy dưới trang phục Tê Giác Ngộ Nghĩnh.

5. OLESKII TRYTENKO (THE MASKED SINGER UA)
Oleksii Trytenko là một diễn viên người Ukraine. Anh tham gia cuộc thi The Masked Singer UA mùa đầu tiên với trang phục tê giác đấm bốc, và được nhiều người xem là tạo hình tê giác đẹp và chất nhất trong số các cuộc thi ca hát ẩn danh. Oleskii đã trải qua 12 tuần thi với 12 bài hát, và dành hạng 3 chung cuộc.

6. BARRY ZITO (THE MASKED SINGER US)
The Masked Singer phiên bản Mỹ mùa 3 cũng có một nhân vật tê giác, The Rhino, với bộ trang phục không quân truyền thống. Nhân dạng của The Rhino là Barry Zito, cựu cầu thủ bóng chày MLB. Không phải là những bản hit sôi động, mà chính ca khúc “Humble And Kind” của Tim McGraw đã chạm đến trái tim của người nghe và ban giám khảo. Thậm chí, màn trình diễn của Barry khiến cho một trong những ban giám khảo, Nicole Scherzinger, rơi lệ.

7. MIRO (THE MASKED SINGER BUL)
“Everybody!!!”
Có thể nói “Everybody” của Backstreet Boys là một trong những bài hát đã đi vào lòng những thế hệ trẻ ở khắp nơi với giai điệu sôi động và vũ đạo cháy hết mình của nhóm nhạc. Hôm nay album chúng tôi cũng đem đến cho các bạn bài hát này qua phần trình diễn của The Rhino từ The Masked Singer Bulgaria mùa 3. The Rhino, hay Носорогът trong tiếng Bulgaria, có ngoại hình đen bóng với những góc cạnh gai góc, tạo nên một phiên bản tê giác mới lạ trong cuộc thi. Đằng sau chiếc mặt nạ chính là Miro (Miroslav Kostadinov), ca sĩ người Bulgaria từng đại diện nước nhà tham dự Eurovision Song Contest 2010. Sau cuộc thi, anh giành hạng 3 chung cuộc.

8. TIM DOUWSMA (THE MASKED SINGER NL)
Ca khúc thứ 8 và cũng là cuối cùng trong album “DARK SIDE OF THE MOON” thuộc về “Titanium” hát bởi The Rhino của The Masked Singer Hà Lan. Trong cuộc thi, trang phục The Rhino từ xứ sở hoa Tulip được lấy cảm hứng từ bộ giáp thời Trung Cổ với chất liệu da màu nâu. Ngoài ra, nhóm thiết kế cũng dựa trên hình mẫu tê giác Châu Á để tạo nên một bộ trang phục ấn tượng. Người diện bộ đồ tê giác là Tim Douwsma, ca sĩ người Hà Lan, và anh đứng ở vị trí Á quân chung cuộc.

by Christine Roets | Sep 28, 2023 | Latest News
Chào mừng các bạn đã quay lại với series “Tê giác trong văn hóa đại chúng”,
Hôm nay WILD RHINO chúng tôi hân hạnh thông báo phát hành tạp chí “TÊ GIÁC TRONG VĂN HÓA ĐẠI CHÚNG #3: ĐÃ ĐẾN LÚC BIẾN HÌNH RỒI!!!”. Số tạp chí lần này sẽ điểm tên những chiến binh từ những chiến đội Super Sentai được lấy cảm hứng từ loài tê giác với sức mạnh vô song, sự bền bỉ, và lòng quả cảm không khất phục trước cái ác!
Hãy cùng xem qua những nhân vật được gọi tên trong số lần này nhé!!!
Cube Rhino (Doubutsu Sentai Zyuohger)
Green Sai (Choujuu Sentai Liveman)
Juken God SaiDain (Juken Sentai Gekiranger)
Sai Headder (Tensou Sentai Goseiger)
Vẻ ngoài uy nghiêm, chiếc sừng đầy kiêu hãnh, và lớp da tựa như giáp đã truyền cảm hứng rất nhiều cho những chiến binh từ những bộ phim Tokusatsu, cũng nhờ vậy mà hình tượng tê giác được lan tỏa đến những em nhỏ, thậm chí cả người lớn! Vì vậy, hãy cùng nhau NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC nhé!!!

- CUBE RHINO (DOUBUTSU SENTAI ZYUOHGER)
“Bản năng thức tỉnh!!!”
Chủ đề về động vật thường hay xuất hiện ở nhiều chiến đội nhà Super Sentai như Gaoranger, Liveman, Goseiger, Kyuranger, vân vân. Trước đó chúng ta đã đề cập đến Gao Rhino của những chiến binh Gao, lần này sẽ là Cube Rhino của Zyuoh The World từ Doubutsu Sentai Zyuohger. Với mô-típ động vật kết hợp với những khối rubik, Cube Rhino là một chiếc xe tải khổng lồ với hình dáng tê giác. Nhiệm vụ của Cube Rhino bao gồm vận chuyển Cube Wolf và Cube Crocodile đến chiến trường để chiến đấu và hợp thể, ngoài ra nó có thể san phẳng những chướng ngại phía trước nhờ thân hình đồ sộ của mình. Khi kết hợp thành Doubutsu Gattai Tousai Zyuoh, Cube Rhino sẽ trở phần thân, tay trái và chân trong khi cánh tay phải và đầu đến từ Cube Wolf và Cube Crocodile.

2. GREEN SAI (CHOUJYU SENTAI LIVEMAN)
“Green Sai!!!”
Một sự thật thú vị là Choujyu Sentai Liveman là chiến đội mang mô-típđộng vật đầu tiên, và Green Sai chính là chiến binh tê giác đầu tiên của dòng phim Super Sentai. Nhân dạng của Green Sai là Jun’ichi Aikawa, một cầu thủ rugby và là thành viên nhỏ tuổi nhất của chiến đội Liveman. Green Sai là một Liveman dựa trên loài tê giác với tông màu chủ đạo xanh lá-trắng, Ngoài ra, Green Sai còn sở hữu Sai Fire, một hệ thống tên lửa với hình dạng tê giác.

3. JUKEN GOD SAIDAIN (JUKEN SENTAI GEKIRANGER)
“JUKEN HENKEI!!!”
Cái tên thứ ba thuộc về Juken God SaiDain, một GekiBeast của Ken Hisatsu hay GekiChopper. Xuất hiện lần đầu trong tập 34 (“Gowan-Gowan’s Dain-Dain! Beast Fist Giant God, Comes”) của Gekiranger, SaiDain là một con tê giác trắng, sừng vàng với thân hình khổng lồ và cao đến hơn 52 m, rộng 58 m, và nặng đến hàng ngàn tấn! Bên cạnh dạng tê giác, SaiDain có thể trở thành một cỗ máy dạng người hay Beast-Fist Giant God SaiDaiOh. Ở dạng này, sừng của SaiDaiOh trở thành một thanh đại kiếm (Sai Dai Ken) còn phần lưng trở thành tấm khiên với chữ Kanji “大”, nghĩa là “To lớn”. Để gia tăng sức mạnh trước đối thủ, SaiDain có thể hợp thể với các GekiBeast khác để hình thành các robot mạnh mẽ hơn như SaiDaiGekiRinTohja, SaiDaiGekiFire, SaiDaiGekiTohja, và Dai Go Go Ju!

4. SAI HEADDER (TENSOU SENTAI GOSEIGER)
“Combine!!!”
Cái tên cuối cùng của số hôm nay thuộc về Sai Headder từ Tensou Sentai Goseiger. Nếu không có chữ “Sai” (nghĩa là “Tê giác” trong tiếng Nhật), có lẽ mọi người sẽ lầm tưởng mecha này dựa trên loài chuột chũi do tập tính đào đất của loài này tương đồng với chiếc máy khoan. Nhưng không, Sai Headder là một Gosei Headder dựa trên hình mẫu tê giác với chiếc sừng được điều chỉnh để thành một mũi khoan gây sát thương. Sai Headder thuộc Landick Brothers, bộ ba bao gồm Sai Headder, Kuwaga Headder, và Tyranno Headder. Khi hợp thể cùng với Gosei Great, hợp thể mới tên Landick Gosei Great được hình thành với Sai Headder nằm ở chân phải, góp phần quan trọng trong tuyệt kĩ Victory Charge.

by Christine Roets | Sep 1, 2023 | Latest News
Sừng tê giác từ lâu đã là mục tiêu của nhiều người bởi niềm tin sai lệch rằng thành phần có trong sừng tê giác sẽ giúp trị bách bệnh, thậm chí cả ung thư. Điều này vô hình chung đã tạo nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác, tạo điều kiện cho những tên thợ săn nhẫn tâm giết hại những cá thể tê giác để lấy sừng, đẩy những loài tê giác từ Á châu và Phi châu đến bờ vực tuyệt chủng.
Liệu sừng tê giác có đúng là thần dược có thể chữa được bách bệnh như những gì vẫn đồn thổi? Liệu một thứ như vậy có thách thức những phương pháp chữa bệnh của Tây Y và Đông Y?
Hãy cùng WILD RHINO có cái nhìn chi tiết hơn bên trong sừng tê giác để cho thấy rằng sừng tê giác không phải là thần dược và KHÔNG MỘT AI CẦN SỪNG TÊ GIÁC NGOÀI CHÍNH TÊ GIÁC nhé!

1.Protein Keratin và quá trình Keratin Hóa
Chúng ta luôn được tuyên truyền rằng sừng tê giác có thành phần chính là keratin, đây cũng là thành phần làm nên móng tay, móng guốc, móng vuốt và mỏ chim,.v.v. Keratin về cơ bản là vật liệu sinh học với những protein dạng sợi hoặc vô định hình. Nhóm protein dạng sợi được gọi chung là protein keratin.
Protein keratin có cấu trúc xoắn ốc alpha (thường được tìm thấy ở da, lông, sừng của động vật) và có hai loại: loại I và loại II. Keratin loại I có tính acid so với loại II có tính base. Cả hai loại này đều có cấu trúc xoắn ốc alpha (thường được tìm thấy ở da, lông, sừng của động vật). Protein keratin không hoạt động đơn lẻ, chúng tạo thành một mạng lưới trải dài khắp tế bào chất. Cụ thể, hai protein keratin liên kết thông qua các miền trung tâm của chúng để tạo thành một cuộn xoắn ốc song song xung quanh chúng, một phức hợp 2 protein keratin như vậy có thể bao gồm hai protein cùng hoặc khác loại (còn gọi là dimer). Các dimer tiếp tục kết hợp với nhau tạo thành một phức hợp 4 protein, hay tetramer. Tiếp đó, sự kết hợp của 8 tetramer tạo thành một sợi đơn vị (Unit-length filament). Các sợi đơn vị này nối liên tiếp nhau, hình thành nên sợi keratin. Các sợi keratin trải dài khắp tế bào biểu mô và kết nối với những tế bào xung quanh thông qua cấu trúc cầu nối gian bào, hay desmosome. Sự kết dính chặt chẽ giữa các tế bào sừng đảm bảo hạn chế tác động cơ học từ bên ngoài.

Ảnh 1. Protein keratin và sự hình thành sợi keratin. Nguồn ảnh: Courtesy, Julie V Schaffer, MD.
Vậy protein keratin được tạo ra từ đâu? Từ lớp biểu bì bao quanh bên ngoài cơ thể, cụ thể là lớp thượng bì. Lớp thượng bì phân hóa thành 4 lớp nhỏ (Ảnh 2):
- Lớp nền (Stratum basal)
- Lớp gai (Stratum spinosum)
- Lớp hạt (Stratum granulosum)
- Lớp sừng (Stratum corneum)

Ảnh 2. Các lớp của cấu trúc thượng bì (Epidermis).
Lớp nền là nơi có những tế bào gốc (những tế bào có khả năng biệt hóa thành những tế bào với những chức năng nhất định) liên tục phân chia. Tại đây, những tế bào gốc có thể biệt hóa thành những tế bào sản sinh keratin (hay các keratinocyte). Các keratinocyte này tiếp tục được đẩy lên các lớp cao hơn và dần dần nhân và những bào quan khác dần tiêu biến, chỉ còn lại những bó sợi keratin dày đặc ở tế bào chất. Cuối cùng, các tế bào keratinocyte chết và chỉ còn những tế bào sừng dẹt chồng chất lên nhau, tạo thành một bức tường vững chắc của cấu trúc biểu bì. Quá trình biệt hóa thành tế bào sừng, sản sinh keratin, và sự chết của tế bào thay thể bằng những sợi keratin còn được gọi là sự keratin hóa (keratinization).
2. Cấu trúc của sừng tê giác
Như vậy chúng ta đã có những khái niệm của protein keratin cũng như cách lớp sừng được hình thành. Vậy giờ đến lúc tìm hiểu về cấu trúc của sừng tê giác thôi!
Xét về mặt cấu trúc, sừng tê giác lại giống với móng guốc ở nhóm thú móng guốc như ngựa, trâu, bò,.v.v. Sừng tê giác được cắm vào lớp hạ bì bao phủ xương mũi phía trước (Ảnh 3). Trên bề mặt của hạ bì tạo thành những nhú bì (dermal papillae). Bao quanh những nhú bì là lớp thượng bì (Ảnh 4). Tại đây, sừng tê giác được hình thành với những cấu trúc hình trụ, còn gọi là những “ống sừng” (horn tubule) sắp xếp chặt chẽ với nhau. Những ống sừng được hình thành từ lớp thượng bì vây quanh hai bên và ở đầu nhú bì (Ảnh 4), các ống sừng bao gồm khoảng 40 lớp mỏng tế bào dẹt và có đường kính từ 300-500 um (Ảnh 6).
Ống sừng đan xen bởi một ma trận liên sừng (intertubular matrix) (Ảnh 5). Cấu trúc liên sừng được tạo ra từ hai bên của mỗi nhú bì cùng với vùng lõm giữa các nhú bì. Những tế bào thuộc ma trận này không tạo nên một cấu trúc nhất định.
Với một cấu trúc phức tạp nhưng đầy thú vị vừa nêu trên, sừng tê giác có được một sự cứng cáp, qua đó đóng vai trò lớn trong nhiều hành vi tự nhiên của loài thú lớn này như giao tranh giữa những con đực, phòng thủ trước thú săn mồi, xới đất,…

Ảnh 3. Mặt cắt đứng dọc của sừng tê giác trắng (Ceratotherium simum). Ảnh tham khảo từ ĐH Ohio.

Ảnh 4. Hình ảnh mô tả mô liên kết (CT), nhú bì (DP), cùng với lớp thượng bì (E) bao phủ nhú bì. Mũi tên biểu thị chiều phát triển của tế bào sừng từ lớp thượng bì. Ảnh tham khảo từ Boy và các cộng sự (2015).

Ảnh 5. Mặt cắt ngang sừng tê giác trắng. Các ống sừng (horn tubule) sắp xếp chặt chẽ với nhau trong ma trận liên sừng (intertubular matrix). Ảnh tham khảo từ Hieronymus và cộng sự (2006).

Ảnh 6. Mô tả rõ hơn những ống sừng sắp xếp khít với nhau. Mỗi ống sừng có 40 lớp tế bào sừng hóa cùng với vùng thùy trung tâm. Ảnh tham khảo từ Ryder (1962).
3. Lõi sừng tê giác có gì đặc biệt?
Khi quan sát những chiếc sừng tê giác, ta dễ thấy ở vùng lõi bên trong có màu tối hơn so với vùng bên ngoài cùng với phần đỉnh nhọn tựa như cây bút chì (Ảnh 7 và Ảnh 8). Nguyên nhân cho việc này chính là sự tập trung dày đặc calcium và sắc tố melanin. Calcium làm cho lõi sừng cứng hơn, đồng thời melanin bảo vệ lõi khỏi bị tác động bởi tia UV từ mặt trời. Trong khi đó, phần bên ngoài lại mềm hơn và dễ bị tổn thương hơn bởi tia tử ngoại và những va chạm.

Ảnh 7. Sừng tê giác bị thu giữ làm tang vật. Vùng lõi của sừng có màu tối hơn so với vùng xung quanh lõi. Nguồn ảnh: Reuters.

Ảnh 8. Trái: ảnh chụp CT và dưới tia cực tím của sừng tê giác. Phải: Hình ảnh minh họa hộp sọ tê giác cùng với sừng tê giác dựa trên ảnh chụp CT. Có thể thấy vùng lõi sừng có màu đậm hơn do sự phân bố dày đặc calcium và melanin. Nguồn ảnh: ĐH Ohio.
4. Hình thái của sừng tê giác
Một đặc điểm của sừng tê giác nằm ở hình dạng của nó: một hình nón (Ảnh 9). Hieronymus và các cộng sự (2006) chỉ ra hàm lượng cao của calcium cùng melanin ở vùng trung tâm bên trong sừng tê giác và sự bào mòn sừng qua một thời gian dài do tia UV, tính cứng rắn ở những mô sừng cũ bị giảm sút, và những hành vi như tấn công, phòng thủ, đào bới đất là những nguyên nhân đằng sau hình dạng quen thuộc của sừng tê giác. Nếu thiếu đi những yếu tố trên, sừng tê giác đã có thể có hình trụ hơi cong nhẹ.
Boy cùng các cộng sự (2015) cũng nêu thêm một cơ chế đằng sau hình nón của sừng tê giác. Bằng cách phân tích phần đáy sừng của sáu cá thể tê giác trắng, họ phát hiện rằng màng đáy thượng bì lún vào mô liên kết ở bên dưới. Chính điều này khiến các nhú bì ở vùng ngoại vi hơi nghiêng nhẹ về phía giữa của sừng, do đó lớp tế bào sừng hóa khi được đẩy lên sẽ giao nhau tại vùng trung tâm. Kết quả là một chiếc sừng có cấu trúc hình nón được hình thành (Ảnh 10).

Ảnh 9. Sừng tê giác có hình nón và đỉnh nhọn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Ảnh 10. Mặt cắt dọc đứng của sừng tê giác. Ta có thể thấy phần màng đáy thượng bì lún vào mô liên kết ở dưới, làm cho các nhú bì hơi nghiêng về phía chánh giữa của sừng, và cuối cùng hội tụ tại đỉnh sừng và dẫn đến cấu trúc hình nón của sừng tê giác. Ảnh tham khảo từ Boy và cộng sự (2015).
5. Lời kết
Có thể thấy, sừng tê giác sở hữu một cấu trúc độc đáo từ bên trong lẫn bên ngoài, từ thiết kế ống sừng trong ma trận liên sừng kết hợp với một lõi sừng dày đặc melanin và calcium đến hình dạng nón ở ngoài. Ngoài ra, chúng ta cũng nhận ra rằng ngoài những thông tin nêu trên, sừng tê giác chẳng có hợp chất thần kỳ nào có thể dùng cho y học và đương nhiên, chẳng thể trị ung thư như nhiều người đồn thổi. Những gì bộ phận này có chỉ là keratin, calcium, melanin, và một số thành phần khác giúp cho sừng tê giác trở nên vững chắc hơn trong những hành vi đời thường như chiến đấu, bảo vệ lãnh thổ mà thôi.
Đáng buồn thay, sừng tê giác vẫn bị xem là thần dược có thể chữa bách bệnh và là món hàng “hot” đắt đỏ tại chợ đen. Vô hình chung, suy nghĩ lệch lạc này đã tạo điều kiện cho những tên thợ săn xách súng và giết hại tê giác, đẩy giống loài này đến bên bờ tuyệt chủng. Vì lẽ này, hãy cùng WILD RHINO quyết tâm NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC để giúp loài tê giác SỐNG THÊM MỘT TRIỆU NĂM nữa nhé!
6. Tài liệu tham khảo
Boy, S. C., Raubenheimer, E. J., Marais, J., & Steenkamp, G. (2015). White rhinoceros Ceratotherium simum horn development and structure: a deceptive optical illusion. Journal of Zoology, 296(3), 161-166.
Keratin. Britannica.
Ryder, M. L. (1962). Structure of rhinoceros horn. Nature, 193(4821), 1199-1201.
Yang, S. (2011). A review of rhinoceros horn. ENGR3810 Structural Biomaterials, 1-10.
by Christine Roets | Sep 1, 2023 | Latest News
Chao xìn các Anh Hùng Tê Giác,
Mọi người đã làm gì để tận hưởng mùa hè này rồi ? Chắc hẳn có bạn đang chu du khắp mọi miền Việt Nam hoặc nước ngoài, đi chơi với bạn bè, gia đình, hay chỉ đơn thuần là ngồi tại nhà bật máy tính, console và đắm mình vào những trò chơi điện tử với gameplay hấp dẫn và cốt truyện sâu sắc nè!
Vậy hôm nay mời các bạn cùng WILD RHINO điểm mặt một số nhân vật gane dựa trên hình mẫu loài tê giác trong phần 2 của series “Tê giác trong văn hóa đại chúng” nhé!!!
Không để các bạn đợi lâu hơn nữa, GAME ON!

1.MAGNUS (DOTA 2)

Vị trí đầu tiên gọi tên Magnus, một vị tướng trong tựa game chiến thuật đình đám DOTA 2. Ông là một chiến binh mạnh mẽ thuộc tộc Magnoceros, một chủng tộc có hình dạng dựa trên loài tê giác với chiếc sừng đầy uy nghiêm và sống tại núi Joerlak. Số phận của tộc Magnoceros cũng như loài tê giác ngoài đời vậy, họ luôn bị đe dọa bởi những tên thợ săn chỉ răm rắp muốn tước đi những chiếc sừng vì sự quý hiếm của chúng, hơn cả bất kì hợp kim nào. Magnus là một chiến binh tê giác vĩ đại và ông luôn chiến đấu hết mình để đảm bảo sự tồn tại của giống loài mình. Sau mỗi trận đánh, móng guốc và sừng của ông luôn đẫm máu kẻ thù.
2. WOOLY RHINO (WORLD OF WARCRAFT)

Với một tựa game nhập vai thế giới mở như World of Warcraft, thú cưỡi là một phần không thể thiếu khi chúng là những người bạn đồng hành cùng chúng ta trên con đường thực hiện các quest, khám phá mọi ngõ ngách của những vùng đất rộng lớn trong game. Một trong những thú cưỡi của World of Warcraft là loài tê giác lông dày. Loài thú này có ngoại hình khá giống loài tê giác lông dày thời tiền sử nhưng lại có đến 10 sừng trên đầu và có vẻ ngoài khá hiếu chiến. Chúng được tìm thấy tại Lãnh Nguyên Borean nằm ở rìa phía tây nam của Northrend.
3. WOOLY RHINO (THE LEGEND OF ZELDA: BREATH OF THE WIND)

Tiếp theo sẽ là loài Tê Giác Sừng Lớn thuộc vũ trụ The Legend of Zelda: Breath of The Wind. Khác với loài tê giác lông dày thuộc World of Warcraft, loài tê giác của tựa game nhà Nintendo lại có phần tương đồng với loài tê giác lông dày thời tiền sử hơn. Loài tê giác này phân bố ở vùng núi Hebro và cao nguyên Gerudo. Vì đặc điểm khí hậu lạnh và đầy tuyết rơi, loài tê giác này có bộ lông dày nhằm thích nghi với điều kiện môi trường lạnh, chúng cũng có hai chiếc sừng lớn và cong, cùng với một cơ thể đồ sộ.
4. KAOS LATIN GAMERS (LEAGUE OF LEGENDS)

Cái tên cuối cùng cũng thuộc về thế giới game, nhưng là về eSport. Đó chính là Kaos Latin Gamers hay KLG, một tổ chức thể thao điện tử Mĩ-Latin được thành lập tại Puerto Rico. KLG là một trong những tổ chức eSport Mĩ-Latin đầu tiên được khai sinh và tranh tài ở nhiều bộ môn như Starcraft II, Counter Strike: Global Offensive, DOTA 2, Liên Minh Huyền Thoại (LOL), etc. Biểu tượng của đội tuyển KLG là một chú tê giác màu đỏ với quyết tâm chinh phục những danh hiệu cao quý và sẵn sàng đánh bại mọi đối thủ cản đường. Các game thủ LOL chắc hẳn biết đội tuyển này qua vòng loại International Wildcard Qualifier 2016 để tìm đội tuyển xứng đáng dự Chung Kết Thế Giới năm ấy. KLG dù là đội tuyển yếu nhưng đã đánh bại đội tuyển Saigon Jokers (Việt Nam), chấm dứt chuỗi 6 trận toàn thua, xếp hạng 8 chung cuộc.
by Christine Roets | Jul 25, 2023 | Latest News
“Tê giác trong văn hóa đại chúng” là nơi mà chúng ta cùng điểm lại những nhân vật nổi tiếng từ lịch sử, nghệ thuật, truyện tranh, phim ảnh, trò chơi điện tử,… được lấy cảm hứng từ loài tê giác đang chu du khắp Phi châu và Á châu. Sở hữu một cơ thể đồ sộ cùng chiếc sừng đầy uy nghiêm, thật dễ hiểu vì sao tê giác lại truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các nhà sáng tạo nội dung, nghệ thuật đến thế! Điều này phản ánh tầm ảnh hưởng của loài động vật này nói riêng và thế giới hoang dã nói chung đến đời sống văn hóa phong phú của loài người. Chính vì lí do này, những Anh Hùng Tê Giác từ Việt Nam, Nam Phi, và nơi khác trên thế giới cùng đồng lòng BẢO VỆ TÊ GIÁC và nói KHÔNG với sừng hay những sản phẩm có nguồn gốc từ sừng tê giác nhé !!!
Số đầu tiên của series sẽ gọi tên ba nhân vật tê giác quen thuộc đã làm nên tuổi thơ của bao bạn trẻ Việt Nam đây, cùng chào đón:
- Rhino Ranger (WILD RHINO)
- Rhinox (Transformers)
- Gao Rhino (Hyakujuu Sentai Gaoranger)
- Gai (Kamen Rider Ryuki)

RHINO RANGER – KIỂM LÂM TÊ GIÁC (WILD RHINO)

Cái tên đầu tiên của loạt bài post này sẽ là Rhino Ranger, hay Kiểm Lâm Tê Giác thuộc chiến dịch “WILD RHINO VIETNAM, BE MY HERO” của Wilderness Foundation Africa tại Nam Phi. Rhino Ranger xuất thân là một bạn tê giác trắng, một trong hai loài tê giác còn tồn tại ở Phi Châu cho đến nay. Bi kịch xảy đến khi cậu phải chứng kiến mẹ của mình bị bọn thợ săn sát hại cách dã man chỉ để lấy sừng đem đi kiếm lời. May mắn được các kiểm lâm cứu sống và nuôi dưỡng tại khu bảo tồn thiên nhiên, Rhino Ranger luôn nhớ cái ngày mẹ mình bị giết, cậu căm hận bọn thợ săn chỉ vì lòng tham mà khiến cậu mồ côi mẹ. Vì lẽ đó, cậu quyết tâm tập luyện, ăn uống đẩy đủ để trở nên khỏe mạnh. Cuối cùng, bạn tê giác trắng yếu ớt ngày xưa nay đã trở thành một Siêu Anh Hùng Rhino Ranger và cũng là nhân vật đại diện cho những Chiến Binh Tê Giác tại Việt Nam và Châu Phi. Để tìm hiểu thêm về hành trình của Rhino Ranger, các bạn có thể tìm comic Kiểm Lâm Tê Giác của WILD RHINO nhé!
RHINOX (TRANSFORMERS)

Thương hiệu Transformers đình đám đã làm không biết bao khán giả phải trầm trồ, nổi da gà trước những pha biến hình ảo diệu của các Autobots thành những chiếc siêu xe siêu đẹp và hầm hố. Không chỉ có Autobots, chúng ta còn có các Maximals, những chiến binh anh dũng chiến đấu vì lẽ phải cùng với khả năng biến hình thành các loài thú sinh sống trên Trái Đất. Trong số các Maximals phải kể đến Rhinox. Sở hữu hình dáng của một con tê giác bọc thép to lớn, Rhinox đóng vai trò là một tanker của team và sẵn sàng đập tan kẻ thù nào cản đường. Hiện các fan Transformers và ủng hộ WILD RHINO có thể chiêm ngưỡng Rhinox trên màn ảnh rộng khi xem Transformers: Rise Of The Beasts đấy!!!
GAO RHINO (Hyakujuu Sentai Gaoranger)

“GAO ACCESS!!!”
Tuổi thơ của các Anh Hùng Tê Giác ở Việt Nam chắc chắn đều có Siêu Nhân Gao hay Chiến đội bách thú Gaoranger rồi phải không nè ? Mỗi lần nghe bài mở đầu “Gao Ồ” ở mỗi tập phim là tất cả chúng ta đều phấn khích trước những chiến binh Gao mạnh mẽ cũng như những màn kết hợp các siêu thú lại thành những cỗ máy robot siêu ngầu lòi đánh bại những yêu quái khổng lồ. Trong số các siêu thú sát cánh cùng các anh em siêu nhân thì phải kể đến Gao Rhino, một siêu thú tê giác với cặp sừng vàng đầy mạnh mẽ và oai vệ. Gao Rhino cùng với Gao Madillo lấy cảm hứng từ loài tê tê hợp thể với các Siêu Thú khác để tạo thành một Robot với thân dưới từ Gao Rhino và Gao Madillo. Một số hợp thể có Gao bao gồm GaoKing Striker, GaoMuscle Striker, Gao Icarus.
GAI (KAMEN RIDER RYUKI)
“HENSHIN!!!”
Cái tên cuối cùng của bài hôm nay là Kamen Rider Gai thuộc Kamen Rider Ryuki. Nhân dạng của Gai là Jun Shibaura (thủ vai bởi Satoshi Ichijo), một sinh viên năm ba thuộc Đại Học Meirin. Ngoại hình của Gai được dựa trên hình dạng của loài tê giác với lớp giáp màu trắng xám cứng cáp và chiếc sừng biểu tượng của loài động vật này. Sử dụng lá bài Strike đem đến cho Gai Metalhorn, một thứ vũ khí đầu tê giác với chiếc sừng có thể gây sát thương cho đối thủ. Bên cạnh đó, lá bài Advent và Final Vent triệu hồi Metalgelas, con quái vật gương có hình dáng tê giác với vai trò hỗ trợ Gai trong việc tấn công các con quái vật cũng như các Rider khác.

Ai là nhân vật Rhino mà bạn thích nhất? Hãy cùng đón chờ những số TÊ GIÁC TRONG VĂN HOÁ ĐẠI CHÚNG sau với những nhân vật hấp dẫn hơn nữa nha!
by Christine Roets | May 22, 2023 | Latest News, Uncategorised
Xin chào những Anh Hùng Tê Giác tại Việt Nam, như vậy là kì nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Chiến Thắng, và Quốc tế Lao Động cũng đã kết thúc, chúng ta lại tiếp tục học tập, làm việc. Sắp tới người dân Việt Nam cùng với bạn bè quốc tế mừng một ngày vô cùng đặc biệt không kém nhé, đó là NGÀY ĐA DẠNG SINH HỌC THẾ GIỚI (22/05) !!!
Ngày 22/05 hằng năm được chọn là Ngày Đa Dạng Sinh Học Thế Giới bởi Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc vào năm 2000 nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về đa dạng sinh học. Sự đa dạng ở đây chính là sự tồn tại của nhiều loài động, thực vật hay các vi sinh vật khác nhau nhưng lại có những vai trò thiết yếu để cùng nhau tồn tại và phát triển, tạo nên một hệ sinh thái bền vững. Sự khác biệt về mặt di truyền là yếu tố cốt lõi dẫn đến sự đa dạng giữa các loài và phân loài. Tê giác cũng đa dạng như thế đấy ! Cho tới nay, hành tinh xanh đang có 5 loài tê giác còn dạo bước trên những đồng cỏ châu Phi, cánh rừng châu Á:
Nhóm tê giác châu Phi
- Tê giác trắng (Ceratotherium simum)
- Tê giác đen (Diceros bicornis)
Nhóm tê giác châu Á
- Tê giác Ấn Độ (Rhinoceros unicornis)
- Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus)
- Tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis)
Nhân dịp ngày đặc biệt này, hãy cùng WILD RHINO điểm lại những loài/phân loài tê giác để hiểu thêm về các bạn móng guốc này nhé
VIỆT NAM ƠI, HÃY NÓI KHÔNG VỚI SỪNG TÊ GIÁC VÀ TRỞ THÀNH ANH HÙNG CỦA CHÚNG TÔI !!!
Tê giác trắng (Ceratotherium simum) – Tình trạng bảo tồn: Sắp bị đe dọa (theo IUCN)
Tê giác trắng (Ceratotherium simum), còn có tên gọi khác là tê giác miệng vuông, là loài tê giác lớn nhứt trong các loài tê giác còn tồn tại. Chúng cao 2 mét và nặng 3500 kg và sở hữu cặp sừng lớn thứ hai chỉ sau sừng của loài tê giác đen. Sừng trước có độ dài 102 cm trong khi sừng sau nhỏ hơn và dài khoảng 55 cm. Về tuổi thọ và sinh sản, tê giác trắng có thể sống từ 35-40 năm, con cái mang thai tầm 16 tháng. Tê giác trắng có hai phân loài, đó là:
- Tê giác trắng phương Nam (Ceratotherium simum simum) – Tình trạng bảo tồn: Sắp bị đe dọa (theo IUCN): đây là phân loài chiếm đa số trong loài tê giác trắng với hơn 18,000 cá thể phân bố đa phần ở bốn quốc gia Phi Châu Nam Phi, Namibia, Zimbabwe, Kenya.
- Tê giác trắng phương Bắc (Ceratotherium simum cottoni) – Tình trạng bảo tồn: Bị đe dọa nghiêm trọng (CRI): trái với số lượng của phân loài phương Nam, con số này ở phân loài phương Bắc là 2!!! Đúng vậy, phân loài tê giác phương Bắc chỉ còn đúng hai cá thể cái tên Najin (34 tuổi) và Fatu (23 tuổi) khi cá thể đực cuối cùng tên Sudan đã giã từ cuộc sống, khiến cho sự tuyệt chủng của phân loài này là điều khó tránh khỏi. Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn không bỏ cuộc và nỗ lực cứu lấy tương lai của tê giác trắng phương Bắc bằng kĩ thuật thụ tinh nhân tạo (IVF) bằng cách kết hợp trứng từ cá thể cái với tinh trùng được trữ đông của cá thể đực Sudan đã chết để tạo phôi. Theo LA Times, ba phôi đã được tạo thành công kể từ tháng 01/2020 và đang chờ cấy vào cá thể cái thuộc phân loài phương Nam để mang thai hộ. Mong rằng kế hoạch sẽ thành công và chúng ta được nhìn thấy đàn tê giác trắng phương Bắc dạo bước trong tương lai !
Ảnh: hai cá thể cái và cũng là hai cá thể cuối cùng của phân loài tê giác trắng phương Bắc (Ceratotherium simum cottoni) Najin và Fatu (Nguồn: Ben Curtis / Associated Press).
Tê giác đen (Diceros bicornis) – Tình trạng bảo tồn: bị đe dọa nghiêm trọng
Tê giác đen (Diceros bicornis), còn gọi là tê giác miệng lưỡi câu do phần mõm trên của loài tê giác nhọn, kéo dài và tạo thành chữ V. Nhờ đặc điểm này mà chúng có thể ăn những loài thực vật phát triển trên cao như lá, cành cây,… Với chế độ ăn khác, tê giác đen có thể cùng sống với loài tê giác trắng, tránh những xung đột không đáng có. Tê giác đen nhỏ hơn tê giác trắng, chúng có chiều cao ngang vai khoảng 1.7m và nặng 1300kg. Tuy vậy, sừng tê giác đen lại lớn hơn sừng các loài tê giác khác với độ dài cho sừng trước và sừng sau lần lượt là 130cm và 55cm. Về tuổi thọ, tê giác đen có thể sống từ 35-50 năm. Một cá thể cái trưởng thành mang thai trong 15-16 tháng và thường chúng sinh một cá thể mỗi 2.5-3 năm. Với năng suất sinh sản ít và lâu, tê giác đen từng đối diện sự tuyệt diệt dưới bàn tay của những thợ săn châu Âu khi họ đặt chân tới Lục Địa Đen. Giai đoạn 1960-1995 đánh dấu sự sụt giảm nghiêm trọng của loài tê giác này khi chỉ còn trên dưới 2,500 cá thể. Tuy vậy, những chánh sách bảo tồn của châu Phi đã giúp số lượng cá thể tê giác đen tăng gấp đôi và đạt gần 6,000 cá thể cho đến nay. Hiện thế giới có bốn phân loài tê giác đen:
- Tê giác đen Trung Nam (Diceros bicornis minor): phân loài đông nhất trong 4 phân loài, chúng được tìm thấy ở Nam Phi, Zimbabwe, phía nam Tanzania và được tái thả ở Botswana, Malawi, Swaziland, và Zambia.
- Tê giác đen Tây Nam (Diceros bicornis bicornis): sống ở Nambia và Nam Phi.
- Tê giác đen phương Đông (Diceros bicornis michaeli): phần lớn cá thể phân bố ở Kenya, số ít tập trung ở bắc Tanzania.
Tê giác đen phương Tây (Diceros bicornis longipes): đã tuyệt chủng vào năm 2011.
Tê giác Ấn Độ (Rhinoceros unicornis) – Tình trạng bảo tồn: bị đe dọa
Tê giác Ấn Độ (Rhinoceros unicornis) còn có cái tên khác là tê giác một sừng lớn, loài tê giác này thuộc chi Rhinoceros cùng với tê giác Java (Rhinoceros sondaicus). Tê giác Ấn Độ phân bố ở đông bắc Ấn Độ và Nepal. Đây là loài tê giác lớn thứ hai chỉ sau loài tê giác trắng, với chiều cao ngang vai tầm 2 m, nặng khoảng 3.5 tấn. Đúng với tên gọi, tê giác Ấn Độ chỉ có một chiếc sừng tương đối nhỏ so với tê giác châu Phi, chỉ dài chừng 25 cm. Chúng có lớp da khác biệt với họ hàng châu Phi, vẻ ngoài chúng được bao phủ bởi những phần da cứng cáp và sần sùi, làm cho loài thú này tựa như những chiến binh khoác trên mình áo giáp đầy oai vệ. Dù vậy, tê giác Ấn Độ cũng đối mặt với nạn săn bắn rồi bị tước đoạt chiếc sừng đầy kiêu hãnh của mình để phục vụ cho những bài thuốc cổ truyền không có cơ sở khoa học hoặc dùng để làm đồ trang trí mỹ nghệ. Bằng những chánh sách bảo tồn hiệu quả từ Ấn Độ và Nepal, loài tê giác này đã thoát khỏi sự tuyệt chủng khi giờ đây hơn 4000 cá thể hiện hữu ở Á châu. Tuổi thọ của chúng độ chừng 35-45 năm, thời gian mang thai của con cái từ 15-16 tháng. Phân bố ở những đồng cỏ nhiệt đới và cận nhiết đới, savanna, vùng cây bụi, tê giác Ấn Độ chọn những cỏ cây, nhánh cây bụi, trái cây, thực vật thủy sinh để ăn.
Tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis) – Tình trạng bảo tồn: bị đe dọa nghiêm trọng
Tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis) là loài tê giác châu Á hai sừng duy nhất và cũng là loài duy nhất thuộc chi Dicerorhinus còn tồn tại, chúng cũng là loài tê giác có liên hệ gần gũi nhứt với loài tê giác lông dày đã tuyệt chủng (Coelodonta antiquitatis). Với chiều cao ngang vai khoảng 1.0-1.5 m, cân nặng khoảng 600-900 kg, tê giác Sumatra là loài tê giác nhỏ nhất trong 5 loài tê giác hiện nay. Sừng trước và sừng sau có độ dài lần lượt là khoảng 55 và 10 cm. So với 4 loài tê giác còn lại vốn trụi lông, tê giác Sumatra được bao phủ bởi lớp lông màu nâu đỏ và có đôi tai tua rua. Tê giác Sumatra sống khoảng 35-40 năm, con cái có thời gian mang thai từ 15-16 tháng và thường đẻ một cá thể mỗi 3 năm. Nơi sống của loài tê giác này là những cánh rừng nhiệt đới thuộc châu Á, do đó khẩu phần ăn của chúng là những trái cây như xoài, vả tây, lá, cành, vỏ cây,… Chúng đã đừng dạo bước ở đông Himalaya thuộc Bhutan, đông Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, bán đảo Mã Lai, Việt Nam, và Trung Hoa. Tuy nhiên, vì nạn săn bắn bừa bãi, các hoạt động phá rừng của con người mà tê giác Sumatra chỉ còn có thể được tìm thấy ở miền trung Kalimantan thuộc Borneo và Sumatra, cụ thể là ở 3 Vườn Quốc Gia Bukit Barisan, Gunung Leuser, Way Kambas thuộc Indonesia. Số lượng của tê giác Sumatra hiện chỉ còn khoảng 80 cá thể ở những quần thể bị phân mảnh, khiến chúng trở thành một trong những loài thú có vú quý hiếm nhứt thế giới. Chính quyền Indonesia và các chuyên gia tê giác toàn thế giới nhất trí rằng nên tập hợp các quần thể tê giác này lại vào cơ sở nhân giống để có thể hành động kịp thời nhằm bảo tồn loài tê giác này.
Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus) – Tình trạng bảo tồn: bị đe dọa nghiêm trọng
Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus), hay tê giác một sừng nhỏ, là một trong những loài tê giác thuộc nhóm tê giác châu Á bên cạnh tê giác Ấn Độ (Rhinoceros unicornis) và tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis). Tê giác Java có chiều cao ngang vai khoảng 1.4-1.8 m, cân nặng dao động từ 900-2.100 kg. Chúng có một cơ thể được phủ bởi màu xám sậm, lớp da tựa áo giáp như ở loài tê giác Ấn Độ nhưng tê giác Java lại có kích thước nhỏ hơn so với người bạn cùng chi Rhinoceros, thêm nữa sừng của loài tê giác này khá nhỏ khi độ dài chỉ khoảng chừng 20 cm. Tuổi thọ của tê giác Java rơi vào khoảng 30-45 năm. Về sinh sản, một cá thể cái chỉ sinh ra một cá thể con mỗi 3-5 năm. Môi trường sống của tê giác Java là những khu rừng nhiệt đới ở Á châu. Tê giác Java từng phân bố rộng rãi khắp Đông Ấn, Pakistan, các nước Đông Nam Á như Mã Lai, Myanmar, Indonesia, và cả Việt Nam. Mặc dù có mặt ở nhiều nơi là thế, nạn săn bắn đã góp phần gây sụt giảm nghiêm trọng quần thể tê giác Java, qua đó thu hẹp dần phạm vi phân bố của giống loài này kéo theo sự biến mất của chúng ở nhiều quốc gia kể trên. Thế giới đã ghi nhận hai phân loài tê giác Java:
- Tê giác Java An Nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus): đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam. Cá thể cuối cùng đã bị giết vào ngày 29/04/2010 tại rừng già Cát Lộc, VQG Cát Tiên, Đồng Nai, Việt Nam.
- Tê giác Java Nam Dương (Rhinoceros sondaicus sondaicus): sống ở VQG Ujung Kulon tại Java, Indonesia. Số lượng độ chừng 80 cá thể.
Tê giác Java hiện nay là loài tê giác hiếm nhất trong tất cả các loài tê giác, dù vậy tương lai của loài tê giác Java là có khi vẫn còn một quần thể tê giác sinh sống ở Vườn Quốc Gia Ujung Kulon, Indonesia. Mặc dù số lượng cá thể vẫn còn rất ít, nhưng vẫn là một hi vọng cuối cùng giúp cho tê giác Java thoát khỏi nạn tuyệt chủng. Để thực hiện được điều này, mỗi người chúng ta hãy chung tay nói KHÔNG với sừng và các sản phẩm từ tê giác nhé !